Thu02222018

Last update12:37:48 AM GMT

Báo cáo diễn biến động thái nước dưới đất 6 tháng đầu năm 2007

A.   Đồng bằng Bắc Bộ


- Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) tầng chứa nước Pleistocen trung-thượng (qp) 6 tháng đầu năm thấp hơn giá trị cùng kỳ năm trước và trung bình nhiều năm.  

Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất tầng qp tiếp tục giảm dần như Hà Nôi, Nam Định, Hải Phòng.

-          Vùng Hà Nội:  mực nước sâu  nhất cách mặt đất tại lỗ khoan quan trắc P.41a ở trung tâm bãi giếng Hạ Đình là 34,54m,  Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007 là 34,61m.

-           Vùng Hải Hậu-Nam Định:  Mực nước sâu nhất cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.109a  là 8,97m, thấp hơn cùng kỳ năm trước 0,28m. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 9,07m.

-          Vùng Kiến An - Hải Phòng : Mực nước sâu nhất cách mặt đất tại công trình quan trắc Q.167a  là 10,28m, thấp hơn cùng kỳ năm trước 0,22m. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 10,58m cách mặt đất.


-          Thành phần hoá học nước dưới đất:

+ Tầng chứa nước qh nằm trên cùng, tiếp xúc với khí quyển. Nước nhạt thường phân bố ở các dải ven sông, nước mặn thường phân bố ở khu vực ven biển. Có 8/32 mẫu có độ tổng khoáng hoá vượt quá chỉ tiêu cho phép cho ăn uống và sinh hoạt.  Đây là tầng chứa nước trên cùng, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố đặc biệt là dân sinh, kết quả phân tích amoni cho thấy có 16/21 mẫu có hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP ).

+ Tầng chứa nước  qp là tầng chứa nước chính ở đồng bằng Bắc Bộ, nằm bên dưới tầng chứa nước qh. Độ tổng khoáng hoá nước dưới đất (TDS) tổng hợp cho tầng qp mùa khô năm 2007 là 654mg/l giảm 336mg/l so với giá trị cùng kỳ năm trước. Nguyên tố Mn có tỷ lệ mẫu vượt chỉ tiêu cho phép cao 9/25 mẫu  theo tiêu chuẩn TCVN-5944-1995 (Tiêu chuẩn ô nhiễm nước ngầm của Bộ Khoa Học và Công Nghệ năm 1995); hàm lượng cao nhất của các nguyên tố Mn là 1,85mg/l (Q.127a - Hưng Yên). Nguyên tố As có 2/25 mẫu vượt chỉ tiêu cho phép hàm lượng cao nhất là  0,608mg/l (Q.58a – Hoài Đức-Hà Tây ). Có 11/13 mẫu nghiên cứu có hàm lượng NH4+ vượt quá chỉ tiêu cho phép. Hàm lượng cao nhất là 97,5mg/l (Q.69a - Hà Đông - Hà Tây). Các vùng có hàm lượng amoni và asen cao là Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam.

B.         Đồng bằng Nam Bộ


- Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) các tầng chứa nước Pleistocen thượng (qp3), Pleistocen trung - thượng (qp2-3), Pleistocen hạ (qp1), Pliocen trung (n22), Pliocen hạ (n21), Miocen thượng (n13) 6 tháng đầu năm được tổng hợp cho thấy có xu hướng suy giảm so với giá trị cùng kỳ năm trước và giá trị trung bình nhiều năm (1995-2007). 

- Mực nước sâu nhất cách mặt đất tầng chứa nước Pliocen trung (n22) ở vùng Cà Mau tại công trình quan trắc Q17704T là 16,73m cách mặt đất. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 16,97m cách mặt đất.

-          Mực nước sâu nhất cách mặt đất ở Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh tại công trình quan trắc Q015030  là 28,36m cách mặt đất, thấp hơn cùng kỳ năm trước 2,02m.  Q015030 là công trình nằm trong vùng động thái khí tượng bị phá huỷ do khai thác, mực nước bị hạ thấp được hồi phục do được cung cấp tạo nên 2 chu kỳ dâng , hạ mực nước. Chu kỳ dâng mực nước xảy ra vào tháng 1-tháng 2.  Do tầng chứa nước ở sâu, nên sự hồi phục xảy ra chậm pha từ 1-3 tháng so với mùa mưa. Dự báo 6 tháng cuối năm độ sâu mực nước đạt khoảng 28,31m cách mặt đất.

Thành phần hoá học nước dưới đất: Độ tổng khoáng hoá nước dưới đất tổng hợp cho các tầng chứa nước có xu hướng thay đổi so với năm 2006 và so với trung bình nhiều năm (1995-2007).

Hầu hết yếu tố vi lượng nước dưới đất trong các tầng chứa nước đều nằm dưới chỉ tiêu cho phép trừ Mangan và Asen. Trong đó, tầng qp­3 có 3/6 mẫu có hàm lượng mangan vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 2,39mg/l (công trình Q031020 - Thanh Bình - Đồng Tháp); 1/6 mẫu có hàm lượng Asen vượt quá TCCP đạt 0,057mg/l ( công trình Q409020 - TX Sóc Trăng - Sóc Trăng); Kết quả phân tích mẫu nhiễm bẩn cho thấy có 2/10 mẫu có hàm lượng amoni vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 5,99mg/l (công trình Q031020 - Thanh Bình - Đồng Tháp). Tầng qp2-3 có 1/8 mẫu có hàm lượng mangan vượt quá TCCP, có hàm lượng 0,55mg/l (công trình Q598020 - TX Sóc Trăng - Sóc Trăng). Tầng qp­1 có 2/8 mẫu có hàm lượng mangan vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 1,56mg/l (công trình Q02204T - Thạnh Hoá - Long An); có 1/8 mẫu có hàm lượng Crôm, Đồng và Niken vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt lần lượt là 0,716mg/l; 0,4mg/l; 0,113mg/l (công trình Q220040 - Tân Biên - Tây Ninh). Tầng n22 có 3/9 mẫu có hàm lượng mangan vượt quá TCCP, hàm lượng cao nhất đạt 38,7mg/l (công trình Q17704T - TX Cà Mau - Cà Mau).

C.         Vùng Tây Nguyên


- Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) vùng Tây Nguyên được tổng hợp tính toán cho thấy giá trị trung bình tháng trong sáu tháng đầu năm 2007 cao hơn so với giá trị trung bình nhiều năm và thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, có lẽ do biến đổi khí hậu, năm khô hạn, năm mưa nhiều làm biến đổi mực nước.

            - Tại các vùng khai thác với lưu lượng lớn như Buôn Ma Thuột, Kon Tum,... mực nước có xu hướng suy giảm. Mực nước sâu nhất cách mặt đất ở vùng Kon Tum tại công trình quan trắc C5o (hìình 5) là 33,19m. Dự báo 6 tháng cuối năm mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 32,99m cách mặt đất


Thành phần hoá học nước dưới đất: Độ tổng khoáng hoá trung bình mùa khô năm 2007 là 150mg/l, tăng 48mg/l so với trung bình cùng kỳ năm trước và so với trung bình nhiều năm.

Các yếu tố vi lượng trong nước dưới đất đều nằm trong giới hạn cho phép trừ Thuỷ ngân và Mangan. Hàm lượng Mangan cao nhất đạt 0,59mg/l ( công trình LK18T - TT. An Khê - Gia Lai), hàm lượng thuỷ ngân cao nhất đạt 0,003mg/l ( 32S - TX Kon Tum - Kon Tum).

Thông báo động thái nước dưới đất năm 2006

A.        Đồng bằng Bắc Bộ

1.         Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) hai tầng chứa nước Holocen và  Pleistocen (qp) năm 2006  có xu thế giảm dần so với trung bình nhiều namư và năm 2005. Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất tầng qp tiếp tục giảm dần như Hà Nôi, Nam Định, Hải Phòng.

- Vùng Hà Nội:  mực nước sâu  nhất cách mặt đất tại lỗ khoan quan trắc P.41a ở trung tâm bãi giếng Hạ Đình là 35,12m,  Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007 là 35,4m.

-  Vùng Hải Hậu-Nam Định: mực nước sâu nhất cách mặt đất  tại lỗ khoan quan trắc Q.109a  là 8,92m. Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007 là  9,1m.

- Vùng Kiến An-Hải Phòng: Mực nước sâu nhất cách mặt đất  tại lỗ khoan quan trắc Q.167a  là 10,44m.  Dự báo mực nước tháng 6 năm 2007  là  10,64m.

-          Thành phần hoá học nước dưới đất: Tầng chứa nước qh nằm trên cùng, tiếp xúc với khí quyển nên chất lượng nước có sự khác biệt giữa hai mùa mưa và mùa khô. Các giá trị thường cao hơn và mùa khô và giảm đi vào mùa mưa do bị bốc hơi vào mùa khô và được làm loãng vào mùa mưa. Độ tổng khoáng hoá nước dưới đất (TDS) tầng qp trung bình mùa khô năm 2006 là 990mg/l, mùa mưa là 646mg/l, trung bình năm là 826mg/l tăng giảm không đáng kể so với năm 2005. Các nguyên tố Mn, As, amoni có tỷ lệ mẫu vượt  tiêu chuẩn cho phép -TCCP (so với tiêu chuẩn TCVN 5502:2003 – Nước cấp sinh hoạt-Yêu cầu chất lượng)  lần lượt là 33-50%, 8-22%, 46-69% ; hàm lượng cao nhất của các nguyên tố Mn, As, mùa khô và mùa mưa lần lượt là: 3,1mg/l (Q129b–TX Hưng Yên), 2,28mg/l (Q33a-Đông Anh –Hà Nội); 0,25mg/l (Q.88b-Phủ Lý -Hà Nam) và 0,47mg/l (Q58a-Hoài Đức-Hà Tây). Hàm lượng NH4+ cao nhất mùa khô và mùa mưa lần lượt là  54mg/l (Q58a-Hoài Đức-Hà Tây); 37,6mg/l (Q.88b – Phủ Lý -Hà Nam).  

 

B.        Đồng bằng Nam Bộ

- Mực nước bình quân (tính bằng độ cao tuyệt đối) được tổng hợp thống kê trong bảng 4. Mực nước các tầng chứa nước Pleistocen trung-thượng (qp2), tầng chứa nước Pleistocen hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocen (N2), tầng chứa nước Miocen (N13) năm 2006 đều thấp hơn so với giá trị trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước. Tại các vùng khai thác mạnh, mực nước dưới đất có xu hướng giảm dần như TP. Hồ Chí Minh, Cà Mau,…

- Độ sâu mực nước lớn nhất cách mặt đất tầng chứa nước Pliocen (N2) ở vùng Cà Mau tại lỗ khoan quan trắc Q17704T  là 16,1m, thấp hơn năm 2005 là 1,30m, giá trị này thường xuất hiện vào mùa hè khi nhu cầu dùng nước tăng cao. Dự báo tháng 6 năm 2006 mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 16,3m.

- Độ sâu mực nước lớn nhất cách mặt đất ở Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh tại lỗ khoan quan trắc Q015030 là 26,34 thấp hơn năm 2005 là 0,05m. Dự báo tháng 6 năm 2006 mực nước có thể hạ thấp xuống độ sâu 26,5m.

- Thành phần hoá học nước dưới đất:  Hầu hết các nguyên tố vi lượng trong các tầng chứa nước đều ở dưới mức chỉ tiêu cho phép trừ Mn và NH4+. Trong đó, tầng qp2-3 có 5/13 mẫu có hàm lượng Mn vượt chỉ tiêu cho phép, hàm lượng cao nhất đạt 0,74mg/l (lỗ khoan Q031020-Thanh Bình - Đồng Tháp),  tầng qp1 có 2/9 mẫu có hàm lượng Mn vượt chỉ tiêu cho phép, hàm lượng cao nhất đạt 0,74mg/l (lỗ khoan Q015030-Bình chánh- TP. HCM) tầng N2 3/17 mẫu có hàm lượng Mn vượt chỉ tiêu cho phép, hàm lượng cao nhất là 1,31mg/l (lỗ khoan Q02204T -Thạnh hoá- Long An). Hàm lượng amoni cao nhất đạt 7,36mg/l (Lỗ khoan Q224020-Bến Cát - Bình Dương).

C.        Vùng Tây Nguyên

- Mực nước bình quân  Do đặc thù riêng của vùng Tây Nguyên, mực nước dưới đất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đặc biệt là khí tượng, sự biến động mực nước tuỳ theo lượng mưa của từng năm và sự phân bố lượng mưa trong các tháng. Có sự lệch pha của dao động mực nước dưới đất và lượng mưa.  Một số điểm mực nước có xu thế giảm dần như Ban lỗ khoan C5o ở ban Mê Thuột.

-          Độ sâu mực nước lớn nhất cách mặt đất ở vùng Ban Mê Thuột tại lỗ khoan quan trắc C5o  là 33,98m cách mặt đất, thấp hơn năm 2005 là 0,08m. Dự báo tháng 6 năm 2006 độ sâu mực nước có thể là 33,30m cách mặt đất.

- Thành phần hoá học nước dưới đất: độ tổng khoáng hoá trung bình của nước dưới đất mùa khô năm 2006 là 110mg/l, mùa mưa là 129mg/l, thay đổi không đáng kể so với giá trị tương ứng cùng kỳ năm 2005. Các nguyên tố vi lượng trong nước dưới đất đều chưa vượt quá chỉ tiêu cho phép trừ Hg và Mn. Hàm lượng Hg và Mn cao nhất lần lượt là 0,002mg/l (C4a- Buôn Hồ- Đắk Lắk) và 1,43mg/l ( LK18T- An Khê - Gia Lai).

Giới thiệu mạng lưới quan trắc Tài nguyên nước

Động thái nước dưới đất (NDĐ) là một quá trình tự nhiên phản ánh sự hình thành & đặc trưng cho sự biến đổi về trữ lượng, chất lượng NDĐ bao gồm: Mực nước, lưu lượng, tốc độ dòng chảy, nhiệt độ, thành phần hoá học, khí, vi trùng... theo thời gian. Nghiên cứu động thái NDĐ nhằm mục đích xác định các nhân tố hình thành NDĐ, từ đó làm rõ được các quy luật biến đổi của chúng trong không gian & theo thời gian. Trên cơ sở đó xây dựng mô hình khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên NDĐ, quản lý sự biến đổi của chúng theo hướng cần thiết của con người.

Công tác quan trắc nghiên cứu động thái NDĐ ở nước ta được bắt đầu ở 3 vùng kinh tế trọng điểm: Đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên. Công tác xây dựng mạng lưới được Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam tiến hành từ năm 1990 đến 1995 với kết quả như sau.

Đồng bằng Bắc Bộ: diện tích 17.000km2 nằm ở miền Bắc Việt Nam cấu tạo bởi các trầm tích Đệ tứ bở rời nằm trên các trầm tích Neogen gắn kết yếu và các đá cổ cố kết. Mạng lưới quan trắc gồm 77 trạm quan trắc khu vực, 3 sân cân bằng nghiên cứu đại lượng bổ cập cho nước dưới đất, 6 tuyến nghiên cứu quan hệ thuỷ lực giữa nước mặt và nước dưới đất với tổng số 202 công trình quan trắc.

Đồng bằng Nam Bộ: là đồng bằng châu thổ của hệ thống sông Mê Công và Đồng Nai, diện tích 57.000km2 nằm ở miền Nam Việt Nam cấu tạo bởi các trầm tích Đệ tứ và Neogen bở rời có chiều dày từ vài chục đến 500-600m, nằm trên các thành tạo cố kết Mezozoi -Paleozoi. Mạng lưới quan trắc gồm 101 trạm quan trắc khu vực, 3 sân cân bằng nghiên cứu đại lượng bổ cập với tổng số 224 công trình quan trắc.

Vùng Tây Nguyên: bao gồm cao nguyên trung phần nằm ở miền Trung, diện tích 55.000km2. Cấu tạo chủ yếu bởi các thành tạo phun trào bazan nằm xen kẽ với các đá cổ Mezozoi, paleozoi hoặc các khối xâm nhập cổ. Mạng lưới quan trắc gồm 132 trạm quan trắc khu vực, 4 sân cân bằng nghiên cứu đại lượng bổ cập với tổng số 210 công trình quan trắc.

Từ năm 1996 tiến hành quan trắc cố định liên tục các yếu tố động thái NDĐ. Các dữ liệu được cập nhật, tổng hợp thành lập cơ sở dữ liệu. Xuất bản các đặc trưng và niên giám, dự báo phục vụ các mục đích khác nhau của các nghành kinh tế quốc dân có liên quan đến NDĐ.

sdmlqt