Sun10202019

Last update09:44:00 AM GMT

Tin tức Trung tâm

Vùng Đức Phổ có nguồn nước sạch, cải thiện cuộc sống

There are no translations available.

vv184Sau hơn 3 năm triển khai (2009 - 2012) Đề án “Đánh giá tài nguyên nước dưới đất vùng Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi”do Liên đoàn Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước (QH & ĐTTNN) miền Trung (thuộc Trung tâm QH & ĐTTNN) thực hiệnđã hoàn thành, thỏa mãn ước mong lâu nay của người dân huyện Đức Phổ là có nguồn nước sạch cải thiện cuộc sống,, làm cơ sở cho việc quy hoạch khai thác, sử dụng nước trên địa bàn huyện, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp phát triển KT-XH của một vùng đất nghèo miền Trung.   

Phát hiện nguồn nước ngầm lớn tại Hà Nội: Giải bài toán thiếu nguồn nước sạch

There are no translations available.

Trong khi nguồn nước ngầm ở Hà Nội đang bị ô nhiễm và dần cạn kiệt, thì mới đây, các chuyên gia của Liên đoàn Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước miền Bắc (Bộ TN&MT) đã phát hiện ra tầng nước ngầm mới dưới lòng đất ở Hà Nội, có trữ lượng rất lớn và chất lượng tốt. Nguồn nước này có thể "giải khát" cho nhiều khu vực đang thiếu nước sạch sinh hoạt trên địa bàn Thủ đô.

Tìm nguồn nước sạch cho vùng lũ

There are no translations available.

vv180Sau 4 năm triển khai thi công (2009-2012), Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam đã thực hiện thành công Đề án “ Đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Hòa, tỉnh Long An”, góp phần thiết thực phục vụ phát triển KT-XH tại một vùng tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh, có nhu cầu tăng trưởng nhanh, đặc biệt là cung cấp nguồn nước sạch cho ăn uống, sinh hoạt của nhân dân trong mùa lũ. 

Tìm nguồn nước sạch cho vùng Vị Thanh - Long Mỹ, Hậu Giang

There are no translations available.

vv176Là một tỉnh mới tách từ thành phố Cần Thơ, công tác điều tra đánh giá tài nguyên nước nói chung và nước dưới đất nói riêng của tỉnh Hậu Giang, nhất là vùng Vị Thanh - Long Mỹ chưa được thực hiện. Nước dùng cho ăn uống, sinh hoạt của cư dân ở đây vì thế rất thiếu thốn. Năm 2007, đáp ứng yêu cầu của UBND tỉnh Hậu Giang, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (nay là Tổng cục Địa chất & Khoáng sản) đã giao cho Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước miền Nam thực hiện đề án “Lập bản đồ ĐCTV - ĐCCT tỷ lệ 1:50.000 vùng Vị Thanh - Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang”, góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển KT- XH ở một vùng đất miền Tây Nam Bộ.

Điều tra nước tại 37 “làng ung thư”

There are no translations available.

vv171Khảo sát nguồn nước ở một "làng ung thư"Theo khảo sát của bệnh viện K, 5 năm gần đây, trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới phát hiện, 70.000 người bị chết vì căn bệnh này, tăng hơn  nhiều so với trước.

 Hiện cả nước tồn tại 37 làng ung thư mà một trong những nguyên nhân gây ra là sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm.Theo khảo sát của bệnh viện Vì vậy, dự án Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số “làng ung thư” của Việt Nam do Trung tâm QH & ĐTTNN- Bộ TN & MT chủ trì thực hiện với sự tham gia của Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Trung là rất cần thiết nhằm giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh ung thư, bảo vệ cuộc sống cộng đồng.

Nước tại các vùng điều tra

Ông Nguyễn Lưu, Liên đoàn trưởng Liên đoàn QH &  ĐTTNN miền Trung cho biết: Toàn dự án sẽ tiến hành điều tra 37 “làng ung thư” trên toàn quốc. Theo nội dung chi tiết của dự án được phê duyệt mỗi “ làng ung thư” được tiến hành các dạng công tác cơ bản như: Điều tra, thu thập các loại tài liệu: hiện trạng bệnh ung thư, đánh giá và khai thác sử dụng các nguồn nước, xả thải; Phân tích, chỉnh lí tổng hợp các loại tài liệu đã thu thập;- Khảo sát, điều tra, đánh giá chất lượng nguồn nước đang sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt; Lấy và phân tích các loại mẫu nước;làm công tác trắc địa công trình;

 Năm 2011 đã điều tra 23 làng thuộc 10 tỉnh, thành phố là Phú Thọ, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Hà Nam, Hà Nội, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Nam.  Kết quả cho thấy, các vùng điều tra đều sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm,nhất là “làng ung thư” Mẫn Xá (Bắc Ninh), Thạch Sơn (Phú Thọ), Phong Yên, Cờ Đỏ, Đức Thành (Nghệ An)…Về khả năng cấp nuớc sạch  cho  của bà con trong các vùng chỉ có Tiên An (Quảng Nam) là khó khăn do không có nguồn nước triển vọng. Các vùng khác đã có công trình cấp nước tập trung của các nhà máy nước do địa phương xây dựng nên việc tìm kiếm nguồn nước không cấp thiết.

Năm 2012, Liên đoàn tiếp tục điều tra  14 “làng ung thư” còn lại của dự án thuộc 12 tỉnh, thành phố: Quảng  Ngãi, Kon Tum, Bình Định, Đăk Lăk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bình Thuận, Tp Hồ Chí Minh, Cà Mau, Long An và Bạc Liêu.  Diễn biến của bệnh ung thư qua các năm tại các “làng” điều tra là rất phức tạp; nhưng hầu hết đều có sự trùng hợp về nguồn nước bị ô nhiễm. Điển hình là các “làng ung thư” Phước Thiện (Quảng Ngãi), Xuân Vinh (Bình Định), Sơn Thành (Phú Yên), Pê Mu (Bình Thuận), Văn Đăng (Khánh Hòa), Kênh Tư Gà (Cà Mau), Yang Re (Đăk Lăk). Số người chết vì bệnh ung thư trong gần chục năm nay tại các làng khá nhiều, nhất là Phước Thiện, Anh Hòa (Quảng Ngãi) Xuân Vinh (Bình Định), Văn Đang (Khanh Hòa), Pêmu (Bình Thuận).

Tác nhân  ô nhiễm nước và nhu cầu nước sạch

Nguồn nước tại các vùng điều tra bị ô nhiễm bởi: thuốc trừ sâu tại các kho chứa thuốc, chất độc chiến tranh, các nghĩa địa, làng nghề, chất thải sinh hoạt, công nghiệp, công trình khai thác nước chưa cách li với các tầng chứa nước nhiễm bẩn… Kết quả phân tích các mẫu nước đang sử dụng cho ăn uống sinh hoạt tại các “làng ung thư” cho thấy, hầu hết đều nhiễm bẩn vi sinh, một số mẫu có hàm lượng phenol, arsen hoặc mangan vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.                                           

   Về nhu cầu nguồn nước sạch cho 14 “làng ung thư” này nổi lên vùngVăn Đăng (Khánh Hòa) là khó khăn nhất vì nhiễm bẩn từ rác thải sinh hoạt tại bãi rác Bắc Nha Trang, chất thải sinh hoạt tại chợ và cư dân trong vùng. Các “làng ung thư” Bình Hưng Hòa (TP HCM), Nhơn Hậu 1 (Long An), Ấp Đầu Voi (Bạc Liêu), Kênh Tư Gà (Cà Mau), An Hòa, Nhơn Lộc 2 (Quảng Ngãi), Trung Hiệp (Lâm Đồng), Sơn Nghiệp (Phú Yên), Đăk Mar (Kon Tum) là các vùng đã có các công trình cấp nước tập trung. Các vùng còn lại đều có nhu cầu cấp nước hợp vệ sinh cho ăn uống, sinh hoạt.

  Ông Nguyễn Lưu cho rằng, Với kết quả điều tra 14 “làng ung thư” năm 2012, giai đoạn II năm 2013, dự án còn 6 “làng ung thư” cần điều tra nguồn nước hợp vệ sinh để cấp nước cho dân cư tại Phước Thiện (Quảng Ngãi), Xuân Mỹ (Bình Định), Văn Đăng (Khánh Hòa), Mê Pu (Bình Thuận), Thôn 4 (Đăk Lăk) và Đăk Mar (Kon Tum).

Hy vọng khi dự án khép lại, nguồn nước phục vụ cuộc sống của bà con tại các làng ung thư  ở Việt Nam sẽ được cải thiện.

(Theo Monre.gov.vn)

Hà Nội: Phát hiện nguồn nước ngầm siêu sạch

There are no translations available.

Các chuyên gia Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc vừa phát hiện tầng nước ngầm mới tại Hà Nội. Với trữ lượng cực lớn và chất lượng đảm bảo, nguồn nước ngầm này sẽ “giải khát” cho các khu đô thị mới đang bức xúc vì thiếu nước sạch sinh hoạt.

Ông Tống Ngọc Thanh, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước miền Bắc (LĐQH&ĐTTNN) cho biết, khoảng 10 năm gần đây, các nhà địa chất thủy văn đã quan tâm tới nguồn nước dưới đất tầng Neogen vùng TP.Hà Nội.

Vừa qua, LĐQH&ĐTTNN đã hoàn thành Đề án “Điều tra, nguồn nước dưới đất tầng Neogen vùng thành phố Hà Nội” với vùng nghiên cứu có diện tích 872 km2. Đề án đã làm rõ sự phân bố theo diện và chiều sâu của các trầm tích Neogen trong khu vực, có độ sâu từ mặt đất xuống khoảng 60 - 110m. Các trầm tích của hệ tầng Vĩnh Bảo phân bố đến độ sâu 197- 447m. Lỗ khoan TD9 ở Bình Minh, Khoái Châu sâu 600m vẫn chưa khoan hết hệ tầng Tiên Hưng. Nhiều lỗ khoan đã gặp nước, có lưu lượng khá tốt. Về cơ bản, nước trong tầng Neogen có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất. Thậm chí, ở một số địa điểm đã đưa vào khai thác, phục vụ cấp nước cho ăn uống sinh hoạt như Linh Đàm, Định Công, Pháp Vân (quận Hoàng Mai).
Theo kết quả điều tra, tầng chứa nước Neogen phía Nam Hà Nội nhiều vùng giàu nước. Quan trọng hơn, chất lượng nước tốt, hàm lượng sắt ít, các yếu tố vi sinh, vi lượng đều dưới mức cho phép. Đề án đã xác định được các vùng có triển vọng khai thác nước lớn trong tầng chứa nước hệ tầng Vĩnh Bảo và đánh giá được trữ lượng tiềm năng nước dưới đất của các trầm tích hệ tầng Vĩnh Bảo lên tới 1.642.925 m3/ngày.

Đặc biệt, có nơi phát hiện nguồn nước có lưu lượng lớn ở nhiệt độ 36 độ C, thuộc loại nước khoáng ấm. Ông Tống Ngọc Thanh nói: “Kết quả điều tra tầng chứa nước Neogen vùng thành phố Hà Nội cho thấy triển vọng nguồn nước mới có chất lượng rất tốt, có thể khai thác để sử dụng cho ăn uống sinh hoạt hoặc ngành sản xuất công nghiệp (dệt may, điện tử) cần nguồn nước có chất lượng tốt… Ngoài ra, nguồn nước khoáng ấm có thể khai thác để phát triển du lịch”. Đương nhiên, vì ở độ sâu lớn hơn các tầng nước ngầm hiện đang khai thác, chi phí đầu tư ban đầu có thể lớn hơn. Song, theo các chuyên gia, lợi ích về lâu dài là rất rõ bởi ưu thế về chất lượng và trữ lượng của nguồn nước này.




(Theo Monre.gov.vn)


Cung cấp nước sạch cho Trung tâm Điều dưỡng thương binh huyện Duy Tiên - Hà Nam

There are no translations available.

Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước (QH & ĐTTNN) miền Bắc  vừa cử đoàn cán bộ do ông Nguyễn Văn Kềnh - Phó Liên đoàn trưởng đến khảo sát nguồn nước tại Trung tâm Điều dưỡng Thương binh huyện Duy Tiên - Hà Nam.

 Kết quả khảo sát cho thấy, Trung tâm đang sử dụng nguồn nước mặt lấy từ sông Châu Giang,  xử lý đơn giản để cấp nước sinh hoạt cho anh em; vì thế, nguồn nước bị ô nhiễm nặng và cạn kiệt vào mùa khô. Từ kết quả này, Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Bắc đã triển khai thi công 1 giếng khoan khai thác nước dưới đất, bơm nước thí nghiệm giếng khoan đạt lưu lượng 150 m3/ngày, đảm bảo chất lượng và đáp ứng nhu cầu nước cho anh em thương binh. Liên đoàn đã lắp đặt máy bơm chìm khai thác đồng bộ, ổn định và trao tặng cho Trung tâm trong niềm phấn khởi, cảm kích của mọi người .

 vv166Giếng khoan mới cung cấp nước đạt chất lượng tốt

 

Ông Nguyễn Sỹ Luơng, Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng thương binh huyện Duy Tiên đã gửi thư cảm ơn tới Bộ TN & MT, Trung tâm Quy hoạch & Điều tra TNN, Liên đoàn QH & ĐTTNN mỉền Bắc. Bức thư có đoạn viết: Trung tâm rất vui mừng trước sự quan tâm của các đồng chí.  Với nguồn nước sạch, ổn định này giúp Trung tâm có điều kiện tốt hơn trong công tác chăm sóc sức khỏe cho anh chị em thương binh.

(Theo Monre.gov.vn)

 

ĐỀ ÁN “ ĐIỀU TRA NGUỒN NƯỚC DUỚI ĐẤT TẦNG NEOGEN VÙNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI”: Bổ sung nguồn nước ngầm quý giá cho phát triển Thủ đô

There are no translations available.

vv164TS. Tống Ngọc ThanhTS. Tống Ngoc Thanh, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch & Điều tra tài nguyên nước (QH & ĐT TNN) miền Bắc cho biết:  Dưới sự chỉ đạo sâu sát của Bộ TN & MT, Trung tâm QH&ĐTTNN, 5 năm qua, CBCNV Liên đoàn QH & ĐTTNN miền Bắc đã nỗ lực vượt lên mọi thách thức, hoàn thành công tác điều tra nguồn nước dưới đất tầng Neogen vùng TP. Hà Nội, mở ra triển vọng lớn trong việc cấp nuớc phục vụ Thủ đô trên đường đổi mới.

* Ông có thể cho biết xuất phát điểm của Đề án?

 Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh: Nguồn nước phục vụ cho Hà Nội chủ yếu là nước dưới đất được khai thác trong các trầm tích bở rời Đệ tứ, vài năm nay có thêm nguồn nước mặt từ Sông Đà; vì thế, hiện tượng suy thoái, ô nhiễm nguồn nước là không tránh khỏi. Những năm 97-98, nhiều cư dân ở các khu vực Định Công, Linh Đàm, Pháp Vân…không ngớt “kêu cứu” về tình trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt. Chủ đầu tư các khu đô thị này như TCT HUT đã phải bỏ tiền, ký hợp đồng với Liên đoàn để thăm dò, tìm kiếm nguồn nước sạch. Liên đoàn đã khoan thăm dò và phát hiện tầng chứa nước Neogen ở độ sâu 180-250m có nguồn nước ngầm khá phong phú, chất lượng rất tốt, nên đã xây dựng, chuyển giao cho Nhà đầu tư bãi giếng công suất 7000 m3/ng, cung cấp nước cho cư dân khu vực trong niềm phấn chấn của mọi người. Đặc biệt, từ khi Hà Nội được mở rộng với Quy hoạch phát triển thành Thủ đô hiện đại, văn minh thì việc tìm kiếm nguồn nước bổ sung, đáp ứng nhu cầu này được nhân lên. Đây chính là xuất phát điểm của Đề án “Điều tra, nguồn nước duới đất tầng Neogen vùng thành phố Hà Nội” do Liên đoàn đảm trách. Vùng nghiên cứu có diện tích 872 km2, phần lớn thuộc Tp Hà Nội, còn lại là các vùng phục cận thuộc các tỉnh Hưng Yên và Bắc Ninh.Đề án được thi công năm 2007, kết thúc tháng 10/2011. 

* Kết quả nổi bật của Đề án được đánh giá như thế nào, thưa ông?

Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh:  Đề án đã làm rõ sự phân bố theo diện và chiều sâu của các trầm tích Neogen trong khu vực, có độ sâu từ mặt đất xuống khoảng 60-110m. Các trầm tích của hệ tầng Vĩnh Bảo phân bố đến độ sâu 197- 447 m. Lỗ khoan (LK) TD9 ở Bình Minh, Khoái Châu sâu 600 m vẫn chưa khoan hết hệ tầng Tiên Hưng.

Thành lập được Bản đồ địa chất thủy văn (ĐCTV) tầng chứa nước Neogen tỷ lệ 1:50.000, là tài liệu quan trọng để triển khai các dự án điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất tiếp theo và cơ sở để thực hiện Đề án “Điều tra đánh giá tổng thể bể than sông Hồng phần đất liền”, nhất là khi khai thác than tầng sâu.

Đã đánh giá được chất lượng nước theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ngầm; theo đó, về cơ bản nước trong tầng Neogen có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất. Chính xác hóa ranh giới mặn nhạt của tầng chứa nước Vĩnh Bảo (n2), trong đó diện tích nước bị nhiễm mặn khoảng 223,7 km2, phân bố ở phía tây, tây nam vùng nghiên cứu

Đã xác định được các vùng có triển vọng khai thác nước lớn trong tầng chứa nước hệ tầng Vĩnh Bảo. Đánh giá được trữ lượngtiềm năng nước dưới đất của các trầm tích hệ tầng Vĩnh Bảo 1.642.925 m3/ng, Trong đó trữ lượng thực bơm tại 11 LK là: 17.336 m3/ng; hệ tầng Tiên Hưng tại 2 LK là 911 m3/ng.Đặc biệt tại LK 10N sâu 400m, thị trấn Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, phát hiện nguồn nước có lưu lượng lớn (800 m3/ng) nhiệt độ 36 oC, thuộc loại nước khoáng ấm.

Đề án làm phong phú thêm nguồn tài liệu điều tra cơ bản về TNN trên địa bàn Hà Nội, phục vụ tốt công tác quản lý nhà nước về TNN trên địa bàn Thành phố.

* Các biện pháp chủ yếu Liên đoàn đã thực hiện để tạo nên sự thành công của Đề án,  thưa ông?

Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh: Liên đoàn đã thu thập, xử lý và tổng hợp tài liệu; điều tra hiện trạng khai thác nước dưới đất; khảo sát địa chất thủy văn trên mặt; ứng dụng công nghệ và thiết bị địa vật lý tiên tiến để nghiên cứu cấu trúc ĐCTV các tầng chứa nước, xác định ranh giới mặn nhạt, tìm ra các cấu trúc, đới chứa nước để khoan các lỗ khoan thăm dò. Dựa trên các tài liệu này đề án đã khoan thành công, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật 14 LK với khối lượng 3280m khoan, trong đó có 2078m được lấy mẫu để nghiên cứu cấu trúc và thành phần đất đá. Đã kết cấu các loại ống chống, ống lọc đường kính trung bình đến lớn để bơm nước thí nghiệm nhằm đánh giá trữ lượng và chất lượng nguồn nước, trong đó có 2 LK sâu nghiên cứu phân tầng ĐCTV, đây là công việc rất khó. Lấy và phân tích hàng trăm mẫu địa chất, nước; quan trắc động thái để làm rõ đặc điểm và quy luật của nước dưới đất trong tầng Neogen...

 Là người trưởng thành từ Liên đoàn, trực tiếp chỉ đạo, gắn bó với Đề án trong suốt 5 năm, theo ông khó khăn lớn nhất của anh em trong quá trình triển khai Đề án là gì và đã khắc phục ra sao để hoàn thành nhiệm vụ?

Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh: Đề án thi công trên địa bàn thành phố Hà Nội và các vùng lân cận là trung tâm chính trị, kinh tế của cả nước, nơi tập trung đông dân, nhiều vùng trồng hoa và kinh doanh cây cảnh…(Văn Lâm, Văn Giang), nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác mượn đất, đền bù giải phóng mặt bằng để tập kết máy móc vào nơi thi công. Có LK chậm thi công tới 2-3 tháng. Mức đầu tư hàng năm hạn chế nên thời gian thực hiện Đề án bị kéo dài từ 3 năm (theo Quyết định phê duyệt) lên 5 năm, ảnh hưởng tới việc sử dụng kết quả điều tra Đề án phục vụ các ngành KT-XH. Máy móc; thiết bị thi công của Liên đoàn chưa được đầu tư nhiều, đa số lạc hậu, xuống cấp trong khi thực tế phải khoan những LK phân tầng với chiều sâu từ 200-400 m, chống các loại ống có đường kính lớn nên thường gặp các sự cố. Do vậy để thành công, Liên đoàn tập trung nguồn lực, đầu tư 4 tổ máy đầu đàn có khả năng khoan sâu đến 700m, chống ống đến đường kính 325mm. Bơm, thổi rửa LK ở độ sâu 200m-400m phải sử dụng tổ hợp máy nén khí Model CPS 350-10 Chicago Pnucmatec, Allas Copco, Sullir mới đủ áp suất thổi rửa sạch lỗ khoan.

 vv165Hút nước thí nghiệm lỗ khoan LK10-N (400m) TT. Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

 * Phải chăng đó cũng là điều khiến ông tâm đắc nhất, bởi Liên đoàn đã vượt lên mọi thách thức, lần đầu tiên thành công trong nghiên cứu tầng sâu nước dưới đất, khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực điều tra tài nguyên nước?

 Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh: Quá trình thực hiện Đề án với chúng tôi như một cuộc tập trận mà kết quả của nó đã giúp cho trình độ, tay nghề đội ngũ CBCN nâng cao, nhất là thi công khoan và kết cấu ống phân tầng ở các LK có đường kính và chiều sâu lớn; kết quả của Đề án đã đạt các mục tiêu đề ra, đặc biệt có nguồn tài liệu mới để khẳng định: tầng chứa nước Neogen phía Nam Hà Nội nhiều vùng giàu nước, có triển vọng tốt và khá chiếm hơn một nửa diện tích nghiên cứu; tỷ lệ các LK giàu nước lớn (84,6%), trong đó có 10/13 (79,6%) LK có lưu lượng Q > 10 l/s;có LK đạt trên 30 l/s, chất lượng nuớc tốt, hàm lượng sắt ít, các yếu tố vi sinh, vi lượng đều dưới mức cho phép.

  * Để đề án phát huy hiệu quả, Nhà nước, các ngành và doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội cần nghiên cứu và triển khai các giải pháp nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả cũng như bảo vệ và phát triển nguồn nước dưới đất quý giá này, thưa ông?

Liên đoàn trưởng Tống Ngọc Thanh: Đó cũng là mong muốn của Liên đoàn! Bởi thành công của đề án là tiền đề để Nhà nước tiếp tục đầu tư nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện nguồn nước dưới đất trong tầng Neogen vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, phục vụ phát triển KT-XH của thủ đô trên đường đổi mới; đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng; vì đây là tầng chứa nước nằm sâu được bảo vệ tốt, ít bị tác động. Nguồn tài liệu này cũng là tiền đề để nghiên cứu ĐCTV khi thăm dò và khai thác than ở bể than sông Hồng.

 Kết quả điều tra tầng chứa nước Neogen vùng thành phố Hà Nội cho thấy triển vọng nguồn nước mới có chất lượng rất tốt, có thể khai thác để sử dụng cho ăn uống sinh hoạt, ngành công nghiệp cần sử dụng nguồn nước có chất lượng tốt cho dệt may, điện tử, chế biến thực phẩm… Đặc biệt đã phát hiện ra nguồn nước khoáng ấm có thể khai thác để phát triển du lịch (phục vụ nước tắm, bể bơi 4 mùa) với chi phí xử lý nước thấp.

* Xin cám ơn Liên đoàn trưởng!

 

(Theo Monre.gov.vn)