Tue03262019

Last update06:09:01 AM GMT

Công trình dự án

Kết quả thực hiện điều tra, đánh giá xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trong các tầng chứa nước trầm tích đệ tứ và neogen vùng Sông Cầu – Tuy Hòa – Đông Hòa

Các tầng chứa nước Đệ tứ và Neogen ở duyên hải miền Trung hầu hết phân bố ở các đồng bằng ven biển. Theo quan niệm địa lý tự nhiên, đồng bằng là vùng đất tương đối bằng phẳng, có thể hơi nghiêng với góc nghiêng nhỏ. Ranh giới giữa các đồng bằng thường được khoanh theo đường viền chân đồi núi, gần như song song với đường phân thủy của các lưu vực sông lớn. Vùng Sông Cầu – Tuy Hòa – Đông Hòa thuộc đồng bằng Phú Yên. Các tầng chứa nước Neogen và Đệ tứ phân bố trên toàn diện tích của vùng. Diện tích điều tra 700km2. Kết quả thực hiện điều tra, đánh giá xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước đươi đất các tầng chứa nước đệ tứ và neogen của vùng đã thực hiện:

Nước sạch đến với các vùng sâu Nam Bộ - Việc làm mang ý nghĩa thiết thực

Đồng bào các dân tộc và chiến sĩ ở các vùng sâu, vùng xa Nam Bộ đang hồ hởi với niềm vui được dùng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày-mong nuớc từ bao đời nay của họ đã thành hiện thực.

Kết quả thực hiện của đề án Quy hoạch điều tra, đánh giá tài nguyên nước đến năm 2015 định hướng đến năm 2020.

Tài nguyên nước là một tài nguyên động theo cả không gian lẫn thời gian. Hơn nữa, ảnh hưởng của biến động khí hậu toàn cầu có xu hướng tăng nhiệt độ, làm tăng lượng bốc hơi, hạ thấp mực nước ngầm, giảm trữ lượng nước ngầm và nước mặt, gia tăng thiên tai. Vì vậy cần phải rà soát đánh giá lại các kết quả điều tra trước kia và có kế hoạch bổ sung các điều tra, đánh giá tài nguyên nước ở những nơi cần thiết. Đề án:” Quy hoạch điều tra, đánh giá tài nguyên nước đến năm 2015 định hướng đến năm 2020” với mục tiêu nhằm định hướng công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước được thực hiện một cách hệ thống, có hiệu quả, theo một lộ trình phù hợp và cung cấp số liệu điều tra cơ bản phục vụ công tác quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước một cách tổng hợp, toàn diện, bền vững và hiệu quả cao trên toàn quốc đã đạt một số kết quả:

Kết quả hoàn thiện mạng lưới quan trắc tài nguyên nước Nam Bộ

Mạng lưới quan trắc quốc gia tài nguyên nước dưới đất vùng Nam Bộ là mạng lưới cơ bản, gồm các điểm quan trắc bố trí thành 13 tuyến khống chế toàn vùng Nam Bộ trong đó bao gồm 3 tuyến mới với 25 điểm đề xuất vào những vùng động thái phá hủy do khai thác nước dưới đất Với mục tiêu là đề xuất bổ sung, hoàn thiện mạng lưới quan trắc tài nguyên nước dưới đất vùng Nam Bộ đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện mạng lưới quan trắc tài nguyên nước dưới đất vùng Nam Bộ” đã đạt được một số kết quả:

Nỗ lực trong việc tìm nguồn nước ngọt cho vùng sâu Nam Bộ

Đề án “Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ” đã đạt được những kết quả vô cùng có ý nghĩa trong việc mang đến cho nhân dân và bộ đội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng biên giới nước sạch để ăn uống và sinh hoạt, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ an ninh biên giới.

Xây dựng phương án bảo vệ nước dưới đất vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Sông Cửu Long

Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất trũng, chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy triều và lũ sông Mê kông. Mặc dù chương trình thủy lợi thoát lũ ra biển Tây đã cải thiện phần nào điều kiện ngập lũ, song hiện tại vào mùa khô toàn vùng chịu nắng hạn, nước mặn xâm nhập tới 3/4 diện tích, mùa mưa chịu lũ lụt từ 4 - 6 tháng. Chính vì vậy cho đến nay việc khai thác tiềm năng của vùng đất này vẫn còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến tài nguyên nước dưới đất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nghiêm trọng

Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm phần đất thuộc 13 tỉnh thành phố gồm: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ. ĐBSCL là vùng đất thấp ven biển của Việt Nam sẽ là khu vực bị tác hại nặng nề nhất do biến đổi khí hậu ( BĐKH) gây ra.

Đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước vùng duyên hải đồng bằng Bắc Bộ phục vụ Điều tra và quy hoạch tài nguyên nước dưới đất

Đồng bằng Bắc Bộ có tiềm năng nước dưới đất phong phú với trữ lượng khai thác tiềm năng đến 17,19 triệu m3/ngày, trong đó trữ lượng có thể khai thác mà không làm cạn kiệt nguồn nước có thể chiếm một nửa. Theo thống kê đến thời điểm nghiên cứu, các tỉnh và thành phố ở ĐBBB hiện tại mới chỉ khai thác sử dụng khoảng 2,26 triệu m3/ngày, chiểm 13,17% trữ lượng khai thác tiềm năng. Dưới tác động các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, trong đó chủ yếu là tác động do con người gây ra làm cho nước dưới đất có sự biến động sâu sắc với xu hướng xấu đi. Để hạn chế sự suy giảm trữ lượng và ô nhiễm nước dưới đất cần thực hiện một loạt các giải pháp, trong đó giải pháp hàng đầu là khai thác hợp lý, chỗ nào có thể khai thác, ở đâu cấm khai thác và hạn chế khai thác, đồng thời cần tổ chức giám sát chặt chẽ sự biến động tài nguyên nước dưới đất bằng công tác quan trắc động thái lâu dài thường xuyên và bổ sung nhân tạo nước dưới đất một cách kịp thời.