Thu03212019

Last update06:09:01 AM GMT

Công trình dự án

Ứng dụng Metadata trong chia sẻ và cung cấp thông tin các dự án, đề tài lĩnh vực tài nguyên nước

Quản lý và khai thác hiệu quả thông tin cơ bản các dự án, nhiệm vụ, đề tài lĩnh vực tài nguyên nước có ý nghĩa tích cực về nhiều mặt. Trong công tác lập kế hoạch, giao nhiệm vụ hàng năm cần thiết quản lý giảm thiểu tình trạng chồng lấn các nhiệm vụ, nội dung, các vùng và phạm vi nghiên cứu… hay rà soát tránh sai sót, trùng lặp nhiệm vụ; Trong công tác triển khai thực hiện các dự án, đề tài việc tìm kiếm từ đó kế thừa lại các kết quả nghiên cứu trước nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao khả năng chia sẻ thông tin; Trong công tác cấp phép khai thác tài nguyên nước là việc tìm kiếm thông tin về đề tài, dự án nghiên cứu trước đây tại khu vực xin phép đều là các vấn đề cần phải được nghiên cứu giải quyết.

Có được hệ thống thông tin trực tuyến cung cấp metadata các dự án tài nguyên nước sẽ giúp giải quyết các vấn đề trên. Ngoài ra, hệ thống thông tin này cũng giúp tổ chức, lưu trữ tài liệu kết quả dự án thêm chặt chẽ, khoa học và hỗ trợ truyền tải thông tin đến người sử dụng hoặc các đối tượng khách hàng có nhu cầu khai thác thông tin – phục vụ thiết thực định hướng kinh tế hóa ngành tài nguyên môi trường lĩnh vực tư liệu, thông tin tài nguyên nước. Thêm nữa, ứng dụng mềm dẻo các chuẩn Metadata đã có sẽ giúp việc chuyển đổi, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống quản lý dữ liệu, thư viện số thông suốt và nhất quán.

Phần nội dung này xem đối tượng dữ liệu quản lý là các dự án, nhiệm vụ, đề tài lĩnh vực tài nguyên nước, thuật ngữ Metadata trong phần này chỉ thông tin thuộc tính của các đối tượng trên. Trong khuôn khổ bài báo và xuất phát từ nhu cầu thực tế quản lý và cung cấp thông tin, xem các mục điển hình được liệt kê dưới đây là các khóa thuộc tính mủa Metadata. Toàn bộ các thuộc tính được nêu đều được lưu trữ, quản lý và cho phép truy vấn như các chỉ mục danh bạ dữ liệu thông thường.Ngoài ra, một số thuộc tính sẽ được trình bày và giải thích chi tiết hơn về tính ứng dụng và ý nghĩa thực tiễn.

Tên nhiệm vụ, đề án

Loại hình nhiệm vụ, dự án, đề án

Đơn vị thực hiện

Chủ nhiệm đề án

Quyết định phê chuẩn báo cáo

Cơ sở pháp lý khác

Thời gian thực hiện

Kinh phí thực hiện

Mục tiêu, nhiệm vụ: Có thể phân tách rõ mục tiêu, nhiệm vụ riêng. Thông tin này cần thiết ở cấp độ quản lý dự án. Khi được tra cứu và so sánh sẽ giúp tránh trùng lặp mục tiêu nhiệm vụ của dự án, đề tài sẽ làm với những dự án, đề tài hiện có.

Vị trí vùng nghiên cứu: Nội dung này hoàn toàn có thể phân tách nhỏ hơn thành các thuộc tính như:Vị trí địa lý (địa danh), Toạ độ địa lý các điểm giao nhau của đường bao quanh vùng nghiên cứu, Diện tích vùng nghiên cứu. Có được những thông tin này vừa tránh việc chồng lấn khu vực nghiên cứu vừa có thể sử dụng để tra cứu và khai thác các kết quả của các dự án, nhiệm vụ đã có tại khu vực mở mới dự án.

Phương pháp và khối lượng các dạng công tác chủ yếu đã thực hiện

Tỷ lệ % sử dụng tài liệu đã có

Tóm tắt kết quả điều tra: Nội dung thuộc tính này có thể phân tách nhỏ hơn để nêu cụ thể các kết quả đã đạt được về đặc điểm địa chất, về điều kiện địa chất thuỷ văn, về chất lượng nước, nguồn thải, kết quả đánh giá trữ lượng nước tự nhiên, chất lượng nước, về điều kiện địa chất công trình… Tùy thuộc vào loại hình và lĩnh vực của dự án mà các giá trị tương ứng với thuộc tính được lựa chọn sẽ được sử dụng. Đối với cấp quản lý, các thông tin kết quả cuối cùng này là hết sức quan trọng.

Các sản phẩm giao nộp chính:

Ký hiệu lưu trữ: Trong trường hợp này có thể xem bộ chỉ mục dữ liệu có một phần ý nghĩa trong hỗ trợ việc lưu trữ tài liệu gốc. Thông tin này giúp việc tìm kiếm, khai thác tài liệu giao nộp gốc nhanh chóng hơn.

Nơi lưu trữ: Đây là thuộc tính rất có ý nghĩa trong việc phổ biến, chia sẻ thông tin qua đó nâng cao giá trị nguồn tài liệu. Đối với người dùng thông thường nhờ thông tin này để biết nơi liên hệ khai thác tài liệu kết quả dự án.

Trên đây chỉ là một phần các thuộc tính tiêu biểu thường gặp trong việc hỏi đáp phục vụ công tác quản lý cũng như các nghiệp vụ thông thường trong lưu trữ, khai thác thông tin các dự án, nhiệm vụ, đề tài lĩnh vực tài nguyên nước.

Cần phải nhấn mạnh rằng về mặt công nghệ, khả năng mở rộng thêm các thuộc tính là vượt quá nhiều lần nhu cầu thực tiễn.Việc gom nhóm, thêm mới các khóa thuộc tính nhằm phân loại và chi tiết hóa thông tin cũng hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu. Có được điều này là do cấu trúc dạng cây của tài liệu XML dùng lưu trữ Metadata.

Ở cấp người dùng quản trị và người dùng thông thường hoàn toàn có thể nhìn các thuộc tính của đối tượng dữ liệu dưới dạng diễn giải. Trong khi đó về mặt kỹ thuật là các khóa tương ứng và tuân theo chuẩn Metadata được lựa chọn, áp dụng và cải tiến. Có được điều này là do kết hợp giã khóa thuộc tính và diễn giải khóa trong cơ sở dữ liệu.

Ứng dụng CNTT trong lưu trữ, quản lý và quảng bá thông tin - Hiện trạng và giải pháp

Bộ Tài nguyên và Môi trường là Bộ có ứng dụng Công nghệ thông tin rộng khắp và mạnh mẽ. Với đặc thù là ngành điều tra cơ bản, sản phẩm của ngành chủ yếu là thông tin, vì vậy ứng dụng CNTT vừa là nhu cầu tự thân vừa là phương thúc nâng cao hiệu quả, năng suất công việc. Hiện nay sản phẩm của công tác điều tra, quan trắc, đo đạc.. của ngành cơ bản là trên công nghệ số, với sản phẩm là dữ liệu thông tin khổng lồ của các đối tượng được điều tra, cùng với đó là hàng ngàn đề tài, dự án lớn nhỏ khác nhau về các ngành thuộc tài nguyên và môi trường. Các dạng công tác này đã để lại một khối lượng khổng lồ tài liệu rất có giá trị cho việc khai thác sử dụng một cách lâu dài. Hiện có hai hình thức lưu trữ đối với các dữ liệu, tài liệu kết quả này:

+ Thứ nhất: Lưu trữ các tài liệu kết quả (thuyết minh, báo cáo, bản đồ) dưới dạng giấy (bản cứng) trước đây do Tổng cục Địa chất nay do Cục quản lý tài nguyên nước quản lý. Các dữ liệu, tài liệu này tồn tại riêng lẻ (sổ lưu trữ, file lưu trữ đơn lẻ) mà chưa có hệ thống lưu trữ, quản lý cũng như các công cụ phục vụ công tác truy suất, khai thác các thông tin dữ liệu này.

+ Thứ hai: Xây dựng cơ sở dữ liệu lĩnh vực tài nguyên nước (Cụ thể ở đây là Dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp Tài nguyên và Môi trường quốc gia” - lĩnh vực tài nguyên nước đang được triển khai do Cục Công nghệ và Thông tin – Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì) nhằm số hóa, biên tập, lưu trữ và tra cứu dữ liệu tài nguyên nước.

Trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước, có các cơ quan quản lý trực tiếp các vấn đề về tài nguyên nước cũng như quản lý các đề tài, dự án đã và đang thực hiện thuộc lĩnh vực tài nguyên nước như Trung tâm thông tin – kinh tế tài nguyên nước thuộc Cục quản lý tài nguyên nước,Trung tâm Dữ liệu quy hoạch và điều tra tài nguyên nước thuộc Trung tâm Quy hoạch và điều tra tài nguyên nước quốc gia. Các trung tâm này đều có cổng thông tin điện tử, website trên đó cho phép truy cập, tìm kiếm và liệt kê các đề tài, dự án đã và đang thực hiện trong lĩnh vực tài nguyên nước, nhưng các thông tin có thể tra cứu được mới chỉ là những thông tin cơ bản nhất như tên đề tài, dự án, chủ nhiệm đề tài, dự án, năm thực hiện...và một vài thông tin cơ bản khác.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chưa có một hệ thống hoàn chỉnh nào cung cấp giải pháp lưu trữ, quản lý siêu dữ liệu về các dự án, đề tài thuộc lĩnh vực tài nguyên nước mặc dù về mặt ý tưởng đã có từ lâu. Bên cạnh đó, việc ứng dụng một hệ thống đã có là không khả thi do các đặc trưng khác nhau của từng lĩnh vực và mỗi quốc gia cũng như tính sẵn có (bao gồm cả sản phẩm thương mại) của hệ thống trực tuyến đáp ứng các chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở Việt Nam.

Tóm lại, hiện trạng ứng dụng CNTT trong lưu trữ, quản lý và quảng bá thông tin kết quả các đề tài, dự án ngành Tài nguyên môi trường nói chung, tài nguyên nước nói riêng tại Việt Nam còn mang tính đơn lẻ, thiếu thống nhất, một số hệ thống mang tính chất đặc thù ngành và chưa đáp ứng triệt để nhu cầu khai thác thông tin – phục vụ thiết thực định hướng kinh tế hóa ngành tài nguyên môi trường lĩnh vực tư liệu, thông tin tài nguyên nước.

Từ thực thế trên  chúng ta cần: tổng hợp và phân tích các kết quả chính của từng loại dự án, đề xuất được các mẫu biểu phù hợp phục vụ thu thập thông tin cơ bản dự án tài nguyên nước; Thu thập và tổng hợp thông tin chung các dự án, đề tài, nhiệm vụ lĩnh vực tài nguyên nước đã và đang thực hiện; Xây dựng được hệ thống thông tin trực tuyến lưu trữ và hỗ trợ quản lý khai thác và quảng bácác thông tin đã thu thập;

Nghiên cứu xây dựng danh bạ dữ liệu tài nguyên nước

Danh bạ dữ liệu tài nguyên nước (hay còn gọi là thư mục dữ liệu tài nguyên nước) là một thư mục đã được số hoá, liệt kê các tập hợp dữ liệu về tài nguyên nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác có liên quan.

Để có các quyết định đúng đắn nhất về quản lý nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên , những người có trách nhiệm cần được truy nhập tất cả các thông tin liên quan bất kể thông tin đó do cơ quan nào cung cấp hoặc lưu trữ. Thông tin có thể bao gồm các dữ liệu về khí tượng thuỷ văn, môi trường... được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu máy tính, dưới dạng các báo cáo, các đánh giá ảnh hưởng môi trường và các dạng thông tin khác. Danh bạ dữ liệu về tài nguyên nước sẽ trở thành một phương tiện truy nhập và chia sẻ thông tin hữu hiệu đối với các cơ quan quản lý và các cơ quan hay cá nhân khác cần tới thông tin. Chia sẻ thông tin là điều kiện thiết yếu cho việc quản lý thành công lưu vực sông cũng như việc xây dựng tổ chức lưu vực sông trở thành một phương tiện quản lý tài nguyên nước một cách có hiệu quả.

grab1429669310grab1428566347110221131449_389_49

Danh bạ dữ liệu là một cơ sở dữ liệu máy tính chứa đựng không chỉ các dữ liệu mà cả các thông tin bao gồm dữ liệu nào sẵn có, trong khoảng thời gian nào, ai quản lý, phải liên hệ với ai để lấy được dữ liệu này... Nói chung, các yêu cầu thường dẫn tới việc lựa chọn một vùng nào đó trên bản đồ, sau đó nhập một số các từ khoá (keywords) mô tả loại thông tin cần tìm. Hệ thống sau đó sẽ cung cấp một danh mục các tập hợp dữ liệu đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra và lúc đó, người sử dụng sẽ biết nơi nào có thông tin phù hợp.

Danh bạ dữ liệu Tài nguyên nước là các thông tin và dữ liệu về tài nguyên nước đang được các cơ quan quản lý tạo ra một nguồn tài liệu tham khảo có thể truy nhập rộng rãi, đơn giản và tiện lợi. Thông qua đó, người sử dụng có thể nhanh chóng biết được thông tin có phù hợp với lĩnh vực của mình hay không, cũng như cần phải liên lạc với ai hay tổ chức nào để lấy thông tin đó. Danh bạ dữ liệu chủ yếu cung cấp các thông tin tham khảo về dữ liệu, bản thân nó không phải là dữ liệu. Ở đây không thu thập tất cả các dữ liêu và thông tin vào hệ thống máy tính. Các dữ liệu vẫn thuộc quyền quản lý của các cơ quan đang lưu trữ các dữ liệu này.

Thông tin và dữ liệu sẵn có là vô cùng cần thiết đối với việc thành công của các dự án ở Việt Nam. Tất cả các cơ quan nhà nước, cơ quan tư vấn và các tổ chức hỗ trợ quốc tế đều nhận thấy thông tin và dữ liệu là một vấn đề quan trọng và hệ thống Danh bạ dữ liệu mới chỉ là giải pháp bước đầu.

Thư viện thông tin nguồn: bao gồm các tư liệu liên quan đến các luật định, chính sách phát triển kinh tế xã hội, khai thác và bảo vệ môi trường, các tư liệu về hiện trạng ( niên giám thống kê, bản đồ hiện trạng,… ) và các tài liệu quy hoạch phát triển kinh tế ngành và kế hoạch phát triển kinh tế tổng hợp ( các bản đồ quy hoạch ) của tỉnh. Thư viện thông tin nguồn có cấu trúc  như sau :

+ Mã định danh (ID) của dữ liệu (tự động cập nhật)

+ Tiêu đề của dữ liệu

+ Kiểu định dạng (văn bản, file số  liệu, bản đồ ,…)

+ Kích thước dữ liệu (số trang, dung lượng file, tỉ lệ bản đồ,…)

+ Tên tác giả, biên tập viên, cơ quan lưu trử, quản lý dữ liệu.

+ Năm công bố

+ Người cung cấp, thời gian cung cấp

Trên các giao diện này tồn tại nhiều thực đơn ( menu) cho phép cập nhật , sửa chửa , tạo mới các lớp thông tin, tìm kiếm thông tin, liên kết giữa CSDL – Bản đồ và các thông tin văn bản một cách dễ dàng.

Qua những tài liệu đã thu thập được, xây dựng danh bạ dữ liệu trong các lĩnh vực trên thế giới luôn là vấn đề được chính phủ và doanh nghiệp các nước đặt lên hàng đầu. Thông tin và dữ liệu sẵn có là vô cùng cần thiết đối với việc thành công của các dự án. Tất cả các cơ quan nhà nước, cơ quan tư vấn và các tổ chức hỗ trợ quốc tế đều nhận thấy thông tin và dữ liệu là một vấn đề quan trọng và hệ thống metadata, ứng danh danh bạ mới chỉ là giải pháp bước đầu. Mỗi cơ quan, tổ chức đang lưu trữ nhiều thông tin nghiên cứu, dự án và các hoạt động khác có thể rất cần thiết đối với các tổ chức và cá nhân khác, có thể dưới nhiều hình thức mà trước đó chúng ta chưa nhận ra. Sự hợp tác về thông tin và dữ liệu đang lưu trữ ở cơ quan, tổ chức đó là rất cần thiết. Những dự án có thể thành công hay không đôi lúc còn phụ thuộc chủ yếu vào sự hợp tác giữa các tổ chức và cá nhân với nhau.

Nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2016 của đề tài KHCN cấp Bộ "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng quy trình xác định khả năng chuyển nước giữa các lưu vực sông. Áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn”

20_09_toancanh_Trung

Chiều ngày 20/9/2016, tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã tổ chức nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2016 của đề tài KHCN cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng quy trình xác định khả năng chuyển nước giữa các lưu vực sông. Áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn” do ThS. Lê Thế Trung - Trưởng phòng Cảnh báo và dự báo tài nguyên nước thuộc Trung tâm Cảnh báo và Dự báo tài nguyên nước làm Chủ nhiệm đề tài.

Nghiên cứu ứng dụng mô hình SWAT đánh giá diễn biến tài nguyên nước mặt tại các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt.

Mặc dù đánh giá tài nguyên nước theo lưu vực/tỉnh/vùng đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, kết quả của đánh giá tài nguyên nước hiện nay chưa đạt được hiệu quả cao nhiều do những hạn chế của dữ kiện đầu vào phục vụ đánh giá. Dữ kiện đầu vào bao gồm các số liệu đo đạc về lượng mưa, nhiệt độ, bốc hơi, dòng chảy, các thông tin về số đặc tính vật lý của mặt đệm, số liệu về nước dưới đất,….Mô hình SWAT đã được xây dựng, phát triển từ nhiều năm qua và xu hướng được ứng dụng rộng rãi trong bài toán quản lý bởi ưu điểm đánh giá diễn biến trên lưu vực thông qua số liệu đất và sử dụng đất đai trên lưu vực cũng như về chất lượng nước.

Mô hình SWAT (Soil and Water Assement Tools) là bộ mô hình vật lý, do tiến sỹ Dr. Jeff Arnold thuộc Trung tâm Phục vụ nghiên cứu nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ xây dựng từ những năm 90. Mô hình được xây dựng để mô phỏng ảnh hưởng của việc quản lý sử dụng nguồn đất và nguồn nước của hệ thống lưu vực sông trong một khoảng thời gian xác định. Mặc dù được xây dựng trên nền các quan hệ thể hiện bản chất vật lý của hiện tượng tự nhiên với việc sử dụng các phương trình tương quan để mô tả mối quan hệ giữa các biến vào và ra, SWAT còn yêu cầu các số liệu về thời tiết, sử dụng đất, địa hình, thực vật và tình hình quản lý tài nguyên đất trong lưu vực. Mô hình SWAT sẽ trực tiếp tính toán các quá trình tự nhiên liên quan tới chuyển động của nước, lắng đọng bùn cát, tăng trưởng mùa màng, chu trình chất dinh dưỡng,… dựa vào các thông số dữ liệu đầu vào. Trên cơ sở đó việc mô phỏng cho một lưu vực theo các chiến lược quản lý lưu vực khác nhau trở nên dễ dàng hơn.

Thực tế qua các nghiên cứu cho thấy mô hình SWAT cho những mô phỏng khá tốt, phản ánh đúng điều kiện vật lý của lưu vực. Phương pháp sử dụng các lưu vực nhỏ trong mô hình để mô phỏng dòng chảy là rất thuận lợi, đặc biệt là khi các lưu vực có đủ số liệu về sử dụng đất cũng như đặc tính của đất. Mô hình SWAT đã phản ánh được ảnh hưởng của điều kiện mặt đệm (vấn đề sử dụng đất trên lưu vực) và dòng chảy lưu vực sông. Mô hình có thể áp dụng để đánh giá sử dụng nguồn nước mặt trong các điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, từ đó sẽ làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp sử dụng nguồn nước trên lưu vực một cách hợp lý, phục vụ phát triển kinh tế bền vững trên lưu vực.

Hiện nay, trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã xây dựng và đưa vào vận hành 7 trạm quan trắc tài nguyên nước mặt bao gồm: Phú Ninh (sông Yên Thuận, Quảng Nam), An Thạnh (sông Kỳ Lộ, Phú Yên), Nha Phu (sông Dinh, Khánh Hoà), YaYun hạ (sông YaYun, Gia Lai), Đức Xuyên (Đăk Lắk ), Đại Ninh (sông Đa Nhim, Lâm Đồng), Cát Tiên (sông Đồng Nai, Lâm Đồng). Tuỳ theo mục đích, yêu cầu mà các trạm được đặt ở các điểm cụ thể nhằm đo đạc, xác định được tài nguyên nước tại các điểm yêu cầu phục vụ cho quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước. Các trạm trên được quan trắc từ năm 2010, các thông số quan trắc chủ yếu là lưu lượng, mực nước, nhiệt độ, lưu lượng chất lơ lửng trên sông và một số trạm quan trắc chất lượng nước. Số liệu quan trắc đã được tổng hợp, tính toán chỉnh lý, chỉnh biên và xây dựng bản tin, niên giám tài nguyên nước phục vụ cho công tác quản lý. Trên thực tế, số liệu quan trắc tài nguyên nước không chỉ phục vụ cho các mục đích nêu trên mà có thể được khai thác ở nhiều lĩnh vực với nhiều mục đích khác nhau.

SP8Hình 1: Bản đồ DEM trong mô hình SWAT và Hình 2: Bản đồ các loại đất trong mô hình SWAT

Đánh giá tài nguyên nước hiện nay thường dựa trên số liệu quan trắc tại các trạm KTTV, tuy nhiên số liệu KTTV chủ yếu để tính toán, xác định chế độ dòng chảy của sông ngòi tự nhiên và dự báo lũ, chưa xét tới vấn đề khai thác sử dụng. Do đó, để có được thông tin số liệu về tài nguyên nước một cách đầy đủ phản ánh được vấn đề khai thác sử dụng thì cần phải sử dụng số liệu quan trắc tài nguyên nước.

Từ thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng mô hình SWAT đánh giá tài nguyên nước mặt” được đề xuất. Các kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ áp dụng công cụ mô hình SWAT trong kỹ thuật đánh giá diễn biến tài nguyên nước mặt tại các trạm quan trắc tài nguyên nước mặt nhằm khai thác hiệu quả số liệu quan trắc tài nguyên nước mặt phục vụ công tác đánh giá tài nguyên nước.

Nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2016 của đề tài KHCN cấp Bộ "Nghiên cứu phương pháp ước tính giá trị kinh tế sử dụng nước trong quy hoạch tài nguyên nước, áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Vệ”

20_09_tcHa

Chiều ngày 20/9/2016, tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã tổ chức Hội đồng nghiệm thu khối lượng thực hiện năm 2016 của đề tài KHCN cấp Bộ “Nghiên cứu phương pháp ước tính giá trị kinh tế sử dụng nước trong quy hoạch tài nguyên nước, áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông Vệ” do ThS. Nguyễn Ngọc Hà - Trưởng ban Điều tra cơ bản tài nguyên nước mặt làm Chủ nhiệm đề tài.

Sự cần thiết để thành lập một Quy trình vận hành phòng thí nghiệm nghiên cứu chất lượng và bảo vệ tài nguyên nước

Trong những năm gần đây, Nhà nước đã chú trọng đầu tư nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chất lượng cao, tập trung phần lớn ở các trường đại học, viện nghiên cứu trong cả nước. Tuy nhiên, cơ chế hoạt động và cách thức khai thác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng về cơ sở vật chất và chưa thực sự khai thác được hết khả năng sáng tạo của nguồn nhân lực. Một trong các yếu tố gây ảnh hưởng lớn đến việc khai thác phòng thí nghiệm chính là việc xây dựng được quy trình vận hành phòng thí nghiệm chuẩn, phù hợp với đặc thù, tính chất của lĩnh vực nghiên cứu. Phòng thí nghiệm nghiên cứu chất lượng và bảo vệ tài nguyên nước thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia mới được thành lập và đang được từng bước trang bị các trang thiết bị tiên tiến, hiện đại. Do phòng thí nghiệm mới thành lập, nên việc nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành phòng thí nghiệm chuẩn sẽ giúp phòng thí nghiệm có cơ hội tập trung mọi nguồn lực để nâng cao năng lực, khẳng định độ tin cậy đối với kết quả các phép đo và phân tích. Tăng cường khả năng nghiên cứu thử nghiệm cơ bản, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, nghiên cứu ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ phân tích cho các đơn vị trực thuộc. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành phòng thí nghiệm nghiên cứu chất lượng và bảo vệ tài nguyên nước trở nên hết sức rất cấp thiết.

Từ thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành phòng thí nghiệm nghiên cứu chất lượng và bảo vệ tài nguyên nước” được đề xuất. Các kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ xây dựng các quy trình vận hành phòng thí nghiệm để nâng cao năng lực quản lý, năng lực kĩ thuật của các cán bộ làm việc trong phòng thí nghiệm đáp ứng được các yêu cầu phát triển của Trung tâm..

Việc quản lý và vận hành phòng thí nghiệm được tiến hành theo nhiều mô hình khác nhau, thể hiện ở hai hình thức: quản lý tập trung và phân cấp.

Ví dụ mô hình quản lý phòng thí nghiệm tập trung thường có quy trình như sau:

SP6Mô hình quản lý phòng thí nghiệm tập trung

Mô hình quản lý phân cấp thường có quy trình như sau:

SP7Mô hình quản lý phân cấp

Là một Trung tâm đầu ngành về lĩnh vực tài nguyên nước thuộc bộ TN&MT, việc có một Trung tâm kiểm định và đánh giá chất lượng nước là một điều hết sức quan trọng là có ý nghĩa. Nó trực tiếp phục vụ cho các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực tài nguyên nước mà Trung tâm đã, đang và sẽ thực hiện. Với hệ thống này, Trung tâm có thể chủ động trong công tác đánh giá chất lượng nguồn nước; phân tích, thí nghiệm chất lượng nước của các vùng nghiên cứu, đề xuất giải pháp xử lý, cải tạo, phục hồi và bảo vệ nguồn nước cũng như tiến hành các dự án quy hoạch, luân chuyển và phục hồi, bổ sung nguồn nước….

Bên cạnh đó, việc xây dựng một quy trình vận hành phòng thí nghiệm đạt chuẩn với hệ thống trang thiết bị hiện đại sẽ giúp cho việc kiểm định chất lượng nước được chính xác, tạo niềm tin và nâng cao vị thế của Trung tâm. Trên thực tế, đã có rất nhiều phòng thí nghiệm cũng như Trung tâm kiểm định chất lượng nước nhưng do trang thiết bị lạc hậu, quy trình phân tích chưa đạt chuẩn nên đã xảy ra hiện trạng các mẫu phân tích chưa thực sự chính xác dẫn đến việc đánh giá chất lượng nguồn nước bị sai lệch gây khó khăn cho việc xử lý, cải tạo và phục hồi nguồn nước.

Với những phân tích trên, chúng ta thấy cần thiết phải thành lập một Quy trình vận hành phòng thí nghiệm nghiên cứu chất lượng và bảo vệ tài nguyên nước. Việc ra đời của quy trình này sẽ giúp các nhà chuyên môn, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý TNN có một công cụ hỗ trợ đắc lực trong các vấn đề chuyên môn cũng như quản lý. Từ đó, tạo ra một quy trình chuẩn để có thể lấy đó làm quy chuẩn trong việc xây dựng, quản lý và vận hành các phòng thí nghiệm về chất lượng nước trên toàn quốc.



Nghiên cứu phương pháp xác định lượng nước mặt có thể phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước trong Quy hoạch tài nguyên nước

Tại Việt Nam công tác nghiên cứu, quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước mới bắt đầu được thực hiện trong những năm gần đây bằng các quy hoạch chuyên ngành liên quan  như quy hoạch thủy lợi, quy hoạch phòng chống lũ, quy hoạch thủy điện, quy hoạch cấp nước ....Đối với công tác phân bổ tài nguyên nước trong Quy hoạch tài nguyên nước nhìn chung đã đề suất được một số nguyên tắc ưu tiên và thứ tự ưu tiên cấp nước cho các ngành dùng nước chủ yếu là: Sinh hoạt, Công nghiệp, Nông nghiệp và Môi trường và đưa ra tỷ lệ cấp nước cho các ngành dùng nước. Tuy nhiên các quy hoạch đó đều chưa có cơ sở xác định lượng nước mặt có thể phân bổ trước khi đem phân bổ cho các ngành dùng nước.

Hiện nay, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đang thực hiện và triển khai dự án Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng thuộc 2 tỉnh Lạng Sơn Và Cao Bằng, việc đưa ra phương pháp xác định lượng nước có thể phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước là cần thiết để thực hiện dự án trên. Tại 2 tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng, Trung tâm đã thực hiện và hoàn thành dự án Quy hoạch tài nguyên nước trên địa bàn 2 tỉnh; các thành phần tính toán liên quan đến việc xác định lượng nước có thể phân bổ cũng được tính toán nhưng lượng lũ không kiểm soát và lượng nước đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của con người chưa được xem xét và đề cập tới.

SP5

 

Từ thực tế đó, đề tài: Nghiên cứu phương pháp xác định lượng nước mặt có thể phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước trong Quy hoạch tài nguyên nước.” được đề xuất. Các kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ đưa ra phương pháp xác định lượng nước mặt có thể phân bổ trước khi tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng nước trong Quy hoạch tài nguyên nước. Và áp dụng xác định được lượng nước mặt có thể phân bổ trước khi tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng trên lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng.