Sat01202018

Last update06:04:02 AM GMT

Công trình dự án

Sóc Trăng – Điểm sáng ứng phó với xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

Tỉnh Sóc Trăng Sóc Trăng là một trong mười tỉnh của cả nước chịu tác động nặng nề nhất của hiện tượng nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu. Đây là một trong những tỉnh còn khó khăn của cả nước. Tuy nhiên, với sự quan tâm của Chính phủ cũng như sự quyết tâm, đồng sức đồng lòng của toàn thể nhân dân trong tỉnh, Sóc Trăng hiện là một trong những điểm sáng của cả nước đối với vấn đề ứng phó với xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

Quan hệ giữa xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và các yếu tố ảnh hưởng

Việt Nam có trên 3000 km bờ biển, tập trung hàng triệu người sinh sống và khai thác các nguồn lợi từ biển. Xâm nhập mặn diễn ra tại hầu hết các địa phương ven biển, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân, đặc biệt tại những cửa sông đổ ra biển. Hai đồng bằng rộng lớn của Việt Nam là Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là những nơi chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng này. Nhiều giải pháp đã được đưa ra, phần nào hạn chế được tình trạng xâm nhập mặn nhưng trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp thì trong thời gian tới, hiện tượng xâm nhập mặn vẫn là mối đe dọa lớn đến đời sống các khu vực này, đặc biệt là khu vực ĐBSCL, vựa lương thực của cả nước.

Xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và các giải pháp khắc phục

Đồng bằng Sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của nước ta. Đây cũng chính là nơi được thiên nhiên ưu đãi với những cánh đồng phì nhiêu, thẳng cánh cò bay. Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Từ cuối năm 2014, ElNino đã ảnh hưởng đến nước ta, làm cho nền nhiệt độ tăng cao, thiếu hụt lượng mưa, là nguyên nhân gây ra tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, đã gây thiệt hại nặng nề và tiếp tục đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất và dân sinh. Các khu vực bị ảnh hưởng nặng là Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

LVS Hồng – Thái Bình: Các vấn đề trong phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra P2

LTS: Trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa và đánh giá nguồn tài liệu thu thập được khi xây dựng và thực hiện dự án Quy hoạch LVS Hồng – Thái Bình, nhóm tác giả thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã chỉ ra các vấn đề trong phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra như sau:

LVS Hồng – Thái Bình: Các vấn đề trong phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra P1

Trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa và đánh giá nguồn tài liệu thu thập được khi xây dựng và thực hiện dự án Quy hoạch LVS Hồng – Thái Bình, nhóm tác giả thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã chỉ ra các vấn đề trong phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra như sau:

Bảo vệ tài nguyên nước khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình: Những vấn đề cấp bách

Đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình chiếm một diện tích lưu vực lớn trong toàn bộ LVS Hồng – Thái Bình thuộc lãnh thổ Việt Nam. Đây cũng là một trong những vùng phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng về tài nguyên nước như chất lượng nguồn nước, sự xâm nhập mặn, ô nhiễm do sinh hoạt và sản xuất... Đây cũng được xem và vùng có nhu cầu sử dụng và phân bổ nguồn nước lớn nhất trên toàn bộ lưu vực.

Cần có chính sách và biện pháp cụ thể để bảo vệ tài nguyên nước trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình.

LVS Hồng - Thái Bình được giới hạn từ 20023’ đến 25030’ vĩ độ Bắc và từ 1000 đến 107010’ kinh độ Đông: Phía Bắc giáp LVS Kim Sa của Trung Quốc; Phía Tây giáp LVS Mê-kông; Phía Nam giáp LVS Mã; Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ. Phần LVS Hồng - Thái Bình trên lãnh thổ Việt Nam có vị trí địa lý từ: 20023’ đến 23022’ vĩ độ Bắc và từ 102010’ đến 107010’ kinh độ Tây. Lưu vực hệ thống sông Thái Bình nằm trọn trong lãnh thổ nước ta.

Sự suy thoái, ô nhiễm nguồn nước dưới đất trên LVS Hồng – Thái Bình

Mạng lưới quan trắc quốc gia và kiểm soát nước dưới đất ở đồng bằng Bắc Bộ được thiết lập từ năm 1990 và hoàn thiện cơ bản năm 1995 trên diện tích 17.000 km2. Hiện nay có 77 trạm với 140 công trình quan trắc (mỗi trạm có từ 1 đến 3 công trình); 06 tuyến với 49 công trình quan trắc nghiên cứu quan hệ thủy lực giữa nước mặt và NDĐ (sông Hồng, sông Thái Bình và biển); 03 sân cân bằng; 10 trạm quan trắc nước mặt. Tầng chứa nước trong trầm tích Đệ tứ có 133 công trình và tầng chứa nước trước Đệ tứ có 7 công trình. Các công trình quan trắc được phân bố trên địa bàn của 12 tỉnh gồm: Vĩnh Phúc, Hà Tây - Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương và đạt mật độ 80 km2/công trình quan trắc. Trong vùng đồng bằng Bắc bộ, thành phố Hà Nội là nơi đã đầu tư xây dựng mạng lưới chuyên quan trắc động thái NDĐ gồm 67 trạm với 117 công trình. Trong đó, tầng chứa nước Holocen có 47 công trình; tầng chứa nước Pleistocen có 62 công trình; tầng chứa nước Neogen có 3 công trình và nước mặt có 5 công trình.