Thu08162018

Last update06:57:12 AM GMT

Tin tức sự kiện

Nguồn nước ngầm có nguy cơ bị ô nhiễm

Hiện cách xử lý rác thải tại các đô thị lớn của Việt Nam gần 90% bằng cách chôn lấp. Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu khiến nhiều tỉnh, thành bị chìm trong nước, đặc biệt là tại Nam bộ, vì vậy, nguy cơ nguồn nước ngầm tại đây bị ô nhiễm là rất cao.

Đó là thông tin được đưa ra tại Hội thảo Bảo vệ môi trường đô thị và khu công nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu do Đại học quốc gia TPHCM phối hợp với Viện Môi trường và Tài nguyên cùng phối hợp tổ chức tại TPHCM, ngày 2-12.

Theo ông Nguyễn Văn Phước, Viện trưởng Viện Môi trường và Tài Nguyên, hiện trung bình bình mỗi ngày có 21.500 tấn chất thải rắn được thải ra từ các đô thị trên cả nước, trong đó, khoảng 90% được chôn lấp tại và trong trường hợp các bãi rác này bị rò rỉ nước do ngập thì nguy cơ suy thoái nguồn nước bề mặt và nguồn nước ngầm rất dễ xảy ra.

Ông Bùi Cách Tuyến, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, xử lý chất thải đang này càng tăng là một trong những vấn đề cần phải làm của các đô thị, đặc biệt những đô thị luôn bị chìm ngập như TPHCM, Cần Thơ do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

“Hiện gần 90% rác thải tại các đô thị được xử lý bằng cách chôn lấp nên nguy cơ nước thải từ các khu xử lý này rò rỉ và không phù hợp với các đô thị luôn bị ngập bởi ảnh hưởng của biến đổi khí hậu” ông Tuyến nói.

Ngoài ra, theo ông Lâm Minh Triết, Viện trưởng Viện Kỹ thuật tài nguyên nước và Môi trường, thách thức lớn nhất của biến đổi khí hậu mà Việt Nam đang đối diện là nguồn nước trong tự nhiên phân bổ không đều tại các tháng trong năm, do vậy, các đô thị, khu công nghiệp tại các tỉnh ven biển sẽ bị rơi vào cảnh thừa mà thiếu nước trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM, hiện toàn thành phố có 154 xã, phường thường xuyên bị ngập úng. Dự kiến thời gian tới số xã phường bị ngập sẽ không giảm mà còn tăng lên 177 xã phường, chiếm 61% diện tích thành phố. Nguyên nhân, theo Sở Tài nguyên và Môi trường là do TPHCM là một 10 thành phố của thế giới bị đe dọa nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu.

(Theo Ngọc Hùng - Thời báo kinh tế Sài Gòn)

Quy hoạch hồ chứa thủy điện, thủy lợi: Hầu hết chưa đánh giá tác động môi trường chiến lược

tt49Hồ chứa nước là cơ sở hạ tầng để sử dụng tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an ninh về nguồn nước cho con người, phục vụ phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, hầu hết quy hoạch hồ chứa mới chỉ có đánh giá tác động môi trường mà chưa đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) như quy định của pháp luật.

 

Chưa đánh giá ĐMC

Hiện nay, cả nước đã xây dựng hơn 2.100 hồ chứa có dung tích mỗi hồ từ 0,5 triệu m3 trở lên với tổng dung tích trữ nước gần 41 tỷ m3, khai thác được trên 8000 MW điện, chiếm gần 40% tổng công suất lắp máy của toàn hệ thống điện quốc gia; bảo đảm nước tưới cho trên 50 vạn hécta, góp phần bảo đảm an ninh lương thực và năng lượng cho đất nước. Hiện tại, Việt Nam đang xây dựng khoảng gần 240 hồ, tổng dung tích hơn 21 tỷ m3, công suất lắp máy gần 9.000 MW và trên 500 hồ đã có quy hoạch sẽ được xây dựng trong vài năm tới, tổng dung tích gần 4 tỷ m3, công suất lắp máy hơn 4.200 MW.

Tuy nhiên, PGS.TS. Lê Bắc Huỳnh cho rằng, hầu hết quy hoạch hồ chứa mới chỉ có đánh giá tác động môi trường mà chưa đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) như quy định của pháp luật. Việc đánh giá tác động môi trường của đa số các dự án thủy điện, thủy lợi chưa tốt, chưa đánh giá hết được tác động môi trường mà dự án gây ra, chưa quan tâm đánh giá đầy đủ, đúng mức ảnh hưởng tới các tài nguyên và môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Đáng chú ý là các tác động đến nguồn nước cả về số lượng, chất lượng, chế độ dòng chảy, đến các nhu cầu khai thác, sử dụng nước khác, nhu cầu nước cần thiết để đẩy mặn trong mùa kiệt, bảo đảm duy trì đời sống bình thường của dòng sông ở hạ du.

Các chuyên gia môi trường nhận định, hiện tại, hoàn toàn thiếu việc đánh giá tác động tổng hợp của hệ thống bậc thang các hồ chứa trên lưu vực sông hoặc một địa phương nên không thấy rõ được những tác động rất bất lợi của toàn bộ các công trình trên lưu vực, do đó thiếu những biện pháp giảm thiểu tác động hoặc biện pháp hạn chế cần thiết.

Các chủ đầu tư, chủ công trình thực hiện chưa nghiêm chỉnh các cam kết về bảo vệ môi trường, nhiều cam kết trong ĐTM không được chủ đầu tư thực hiện một cách triệt để như: Không thu dọn lòng hồ như quy định, không bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu, vận hành không theo quy trình hoặc chỉ vì lợi ích của tổ chức, cá nhân nên gây gia tăng lũ ở hạ du, suy kiệt nguồn nước ở hạ du... Việc giám sát thực hiện các cam kết trong ĐTM hoặc ĐMC thiếu thường xuyên và không chặt chẽ từ các cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương.

Quy hoạch vỡ vụn môi trường sinh thái

Quy hoạch phát triển thủy điện đang "chặt nát" các dòng sông tự nhiên, thành từng khúc nhỏ với những điều kiện dòng chảy, nguồn nước rất khác biệt so với tự nhiên theo hướng ngày càng xấu.

Việc xây dựng công trình đều ở vùng núi cao đầu nguồn nên thường làm mất đất là kèm theo mất rừng ngay trong lòng hồ, đồng thời còn mất đất - rừng cho xây dựng các hạng mục công trình khác, như xây dựng nhà điều hành, các công trình đập, tràn, nhà máy, nhất là đường giao thông lên công trình vào nhà máy, đường tải điện,... đều kéo theo mất rừng đầu nguồn, mất đất, di dân tái định cư và phát sinh nhiều vấn đề... Theo ước tính diện tích đất, rừng bị mất do xây dựng công trình thủy điện ở nước ta năm 2010 là 275.697 ha, dự báo năm 2015 là 536.598 ha; 2020 là 651.996 ha

Các chuyên gia nhận định, trong điều kiện ở miền Trung, nhất là ở khu vực Bắc và Trung Trung Bộ - nơi vùng núi cao áp sát thường cách dưới 30 - 50km, các đồng bằng nhỏ hẹp đông dân cư, tập trung các thị xã, thành phố nên sẽ rất nguy hiểm nếu tiếp tục xây dựng những hồ chứa trên núi cao 500 - 800 mét, như đã và đang xây dựng các hồ chứa Hương Sơn, Vũ Quang, Hố Hô và nhiều hồ chứa ở Thừa Thiên - Huế... Một khi xảy ra sự cố vận hành hoặc sự cố vỡ đập sẽ dẫn đến thảm họa cho hạ du.

Bất cập trong quản lý vận hành hồ chứa

Nhiều ý kiến của các chuyên gia về tài nguyên nước, thủy lợi, thủy điện, liên quan đến phòng chống thiên tai, khai thác, sử dụng nguồn nước về nội dung, giải pháp kỹ thuật trong vận hành các hồ chứa thủy điện cũng như các ý kiến thẩm định các quy trình vận hành công trình hầu như các chủ công trình và nhất là các cơ quan quản lý cấp trên liên quan không hoặc rất ít khi tiếp thu, sửa chữa. Nhiều ý kiến của Bộ TN&MT liên quan đến bổ sung các nhiệm vụ vận hành công trình như : Chế độ vận hành phòng, chống lũ, điều tiết nước bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu ở dưới hạ du... chưa được xem xét đúng mức trong quá trình hoàn chỉnh, thẩm định phê duyệt quy trình vận hành.

Chính vì vậy, đa số các quy trình vận hành các hồ chứa vừa và lớn trên cả nước, nhất là các công trình hồ chứa ở miền Trung, trong nội dung quy trình tuy đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (UBND cấp tỉnh hoặc Bộ Công Thương), nhưng hoàn toàn thiếu hoặc quy định không hợp lý về vận hành công trình, vận hành liên công trình hồ chứa để điều tiết cắt giảm lũ cũng như bảo đảm nguồn nước tối thiểu cần thiết đáp ứng các yêu cầu dùng nước ở hạ du.

Nhiều công trình chưa thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của quy trình vận hành nên đã gây những hậu quả xấu cho hạ du và bản thân công trình. Trong xây dựng cũng như quản lý vận hành công trình, các chủ đầu tư hoặc chủ công trình đều không thực hiện việc thu thập thông tin khí tượng thủy văn cần thiết nên thường vận hành không hợp lý, có trường hợp gây lũ về sớm, lên quá nhanh, làm gia tăng mức độ ngập lụt như trong lũ lụt.

Cụ thể, năm 2009, đã xảy ra lũ lụt ở hạ lưu sông Hương - Bồ do sự cố vận hành cửa van công trình thủy điện Bình Điền; sông Vu Gia - Thu Bồn do xả nước từ công trình A Vương, sông Ba do vận hành xả lũ của công trình sông Ba Hạ.

Mới đây nhất, trong trận lũ lụt lịch sử ở Hà Tĩnh, Quảng Bình do sự cố công trình thủy điện Hố Hô, Kẻ Gỗ gây thiệt hại lớn về người và của. Việc xây dựng công trình không bảo đảm phương án chống lũ cần thiết hoặc công trình không an toàn dẫn đến vỡ đập gây hậu quả nghiêm trọng cho hạ du như trường hợp vỡ đập Cửa Đạt năm 2007 khi đang thi công, vỡ đập Khe Mơ ngày16/10/2010 khi đang sửa chữa; vỡ đập Z20, vỡ đập Thầu Dầu năm 2008... Đây là những bài học và là những lời cảnh báo!








(Theo Phạm Xuân-tainguyenmoitruong.com.vn)

Cấp bách khắc phục thiếu nước sản xuất, sinh hoạt

Cần có biện pháp quản lý phân phối nuớc hợp lý đảm bảo cho sản xuất nông nghiệpMực nước thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình hiện đang thấp hơn hàng chục mét so với bình thường. Trước tình hình này, Thủ tướng đã ra Chỉ thị yêu cầu cấp bách khắc phục tình trạng thiếu nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong những tháng cuối năm 2010, đầu năm 2011.

 

Hiện các sông thuộc khu vực Bắc bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã qua mùa mưa và không có lũ. Mực nước trong các hồ chứa lớn thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình thấp hơn hàng chục mét so với cùng thời kỳ của các năm bình thường.

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương dự báo, những tháng cuối năm 2010, đầu năm 2011, lượng mưa ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm. Tình hình khô hạn trên diện rộng, thiếu điện, thiếu nước phục vụ canh tác nông nghiệp và sinh hoạt rất nghiêm trọng.

Các địa phương luân phiên lấy nước phục vụ canh tác

Chỉ thị nêu rõ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) chỉ đạo, bố trí chi tiết lịch lấy nước phục vụ đổ ải làm đất canh tác vụ Đông-Xuân theo kế hoạch xả nước tăng cường từ các nhà máy thủy điện, điều hành việc lấy nước luân phiên để các địa phương đều được cấp nước, dùng nước tiết kiệm. Đồng thời, Bộ chỉ đạo các địa phương có kế hoạch điều chỉnh mùa vụ sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với khả năng cung cấp nguồn nước.

Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam tính toán lượng nước đang trữ trong các hồ thuỷ điện lớn, thực hiện phát điện xả nước tăng cường theo lịch chi tiết đã thống nhất với Bộ NNPTNT và các địa phương.

Để các địa phương chủ động triển khai lấy nước, các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương phải đưa tin kịp thời về thời gian xả nước tập trung từ các hồ thuỷ điện, diễn biến mực nước trên các sông.

Tích nước đảm bảo sản xuất, sinh hoạt

Bộ NNPTNT chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình thuỷ lợi để đưa vào khai thác sử dụng. Các hồ chứa đang xây dựng nếu đủ điều kiện an toàn cũng thực hiện tích nước phục vụ công tác chống hạn.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường các biện pháp trữ nước, khi có nguồn, lấy nước dự trữ vào các ao, đầm và kênh trục lớn, thực hiện sử dụng nước hợp lý; chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện kịp thời lấy nước, tận dụng tối đa nguồn nước điều tiết từ các nhà máy thuỷ điện để phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Đồng thời cần phải quản lý chặt chẽ nguồn nước hiện có trên địa bàn, chống rò rỉ, thất thoát nước từ các hồ chứa, các công trình thuỷ lợi, quản lý phân phối nước hợp lý, ưu tiên cho sản xuất vụ Đông - Xuân, cấp nước cho sinh hoạt và chăn nuôi.

Chi tiết Chỉ thị xem tại đây:

Thủ tướng chỉ đạo, trước mắt, Bộ trưởng Bộ NNPTNT quyết định thành lập Tổ điều hành công tác phòng, chống hạn phục vụ canh tác vụ Đông - Xuân 2010-2011 do một Thứ trưởng làm Tổ trưởng.

Tổ có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương trong việc phòng, chống hạn, đảm bảo sản xuất, đình kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.


Về lâu dài, cần thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống hạn và xâm nhập mặn quốc gia.


(Theo baodientu.chinhphu.vn)

Lâm Đồng: Xả nước bẩn, một doanh nghiệp bị phạt 400 triệu đồng

Ngày 2.12, tin từ UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, tỉnh vừa ra quyết định xử phạt hành chính đối với công ty Sản xuất lụa tơ tằm Bảo Lộc (Vikotex) với tổng số tiền trên 400 triệu đồng. Lý do phạt được đưa ra là do công ty này trong nhiều năm liền đã lén lút xả thải nước thải chưa qua xử lý trực tiếp ra môi trường.

Trong đó, phạt về hành vi Vikotex không lập đề án bảo vệ môi trường với số tiền là 250 triệu đồng; phạt trên 147 triệu đồng đối với hành vi xả nước bẩn ra môi trường có độ màu vượt quá tiêu chuẩn cho phép trên 10 lần và nước thải có chứa chất nguy hại với thải lượng từ 10 – 50m3/ngày đêm vào nguồn loại B; hành vi gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường nhưng không thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Số tiền còn lại phạt về hành vi không có văn bản quản lý chất thải nguy hại, khai thác tài nguyên nước không có giấy phép, không nạp phí, lệ phí môi trường. Đồng thời, công ty Vikotex còn bị truy thu phí môi trường từ năm 2004 đến nay với số tiền trên 25 triệu đồng.
Ngoài ra, UBND tỉnh Lâm Đồng buộc công ty Vikotex chấm dứt ngay việc xả thải nước bẩn trực tiếp ra môi trường; phải tháo dỡ ngay hệ thống đường ống dẫn nước thải chưa qua xử lý từ máy bơm đổ trực tiếp ra nhánh suối Tân Hà; không được tiếp tục chứa nước thải sản xuất chưa qua xử lý vào bể chứa tự thấm. Đồng thời tiến hành sửa chữa nâng cấp hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn qui định cũng như các thủ tục pháp lý cần thiết theo đúng luật bảo vệ môi trường.
(Theo Sài gòn tiếp thị online)

Những con sông thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai ô nhiễm nặng

Các con sông thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai như Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sài Gòn, sông Bé, Đồng Nai, La Ngà... - nơi sinh sống của cả chục triệu người - đang bị ô nhiễm nặng nề.
“Sức ép ô nhiễm lên môi trường nước lưu vực sông Đồng Nai ngày càng lớn do các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội”. Đó là ý kiến của ông Nguyễn Văn Thùy, phó giám đốc Trung tâm Quan trắc môi trường (Tổng cục Môi trường, Bộ TN-MT), tại hội thảo “Bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai”, tổ chức ở Bình Dương ngày 30-11.
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai gồm các sông chính như: sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Sài Gòn, sông Bé, sông Đồng Nai, sông La Ngà... Tính đến nay, 12 tỉnh thành thuộc lưu vực sông Đồng Nai có 103 khu công nghiệp, khu chế xuất, đó là chưa kể các khu, cụm công nghiệp với diện tích gần 34.000ha.
 
Sức ép
Hiện chỉ số N-NH4 (lượng amoniac) trong nguồn nước ở tất cả cửa sông thuộc lưu vực sông Đồng Nai đều vượt chỉ tiêu quốc gia (QCVN) về chất lượng nước loại A1, trong đó chỉ số COD nhiều nơi có xu hướng tăng mạnh ở các khu vực như phà Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp, sông Soài Rạp... Các dòng sông còn oằn mình gánh những nhà máy thủy điện, gây ảnh hưởng lớn đến vùng hạ lưu, lưu vực sông Đồng Nai.
Theo Trung tâm Công nghệ môi trường (ENTEC), lưu lượng nước thải công nghiệp tống ra lưu vực sông Đồng Nai là gần 2 triệu m3/ngày đêm. Đó là chưa kể hơn 2,7 triệu m3 nước thải sinh hoạt đổ ra, trong đó nước thải của hàng loạt khu đô thị không hề được xử lý, xả thẳng ra sông suối.
Điều này cho thấy tổng lượng nước thải ô nhiễm xả thẳng ra các dòng sông thuộc lưu vực sông Đồng Nai đang ở mức báo động. Báo cáo hiện trạng môi trường của tỉnh Bình Dương cho thấy chỉ có 20% cơ sở sản xuất nằm ngoài khu, cụm công nghiệp đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn. Ngoài ra còn có trên 38% khu công nghiệp xả nước thải trực tiếp ra các dòng sông vượt quy chuẩn cho phép.

tt9

Nước sông Cái, một nhánh của sông Đồng Nai, bị ô nhiễm khiến cá nuôi chết hàng loạt (ảnh nhỏ - chụp ngày 25-6-2010)

Ông Nguyễn Văn Thùy phân tích: “Theo điều tra của ENTEC, trên 350 cơ sở xả nước thải trực tiếp ra sông Đồng Nai, trong 34 doanh nghiệp nằm ngoài khu, cụm công nghiệp thì có 16 doanh nghiệp chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải, gây nên ô nhiễm rất lớn”.
Theo đánh giá của cơ quan chức năng, ngoài nguồn nước thải công nghiệp, điều mà các nhà chuyên môn, nhà khoa học lo ngại là nguồn nước rác thải y tế. Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Đồng Nai năm 2010 cho thấy có tới 35% lượng nước thải y tế tại các bệnh viện tỉnh, huyện chưa được xử lý đổ thẳng vào môi trường. Số còn lại tuy đã xử lý nhưng chất lượng nước cũng chưa đảm bảo, vì các bệnh viện đã xử lý nước thải sai quy trình. Đó là chưa kể các trạm y tế và phòng khám đa khoa không có hệ thống xử lý nước thải.
Theo Tổng cục Môi trường, năm 2010 kết quả quan trắc cho thấy hiện trạng mặt nước sông Sài Gòn về chất N-NH4 có chỉ số luôn vượt ngưỡng tiêu chuẩn QCVN ở mức B1 nhiều lần; còn chỉ số BOD5 (nhóm chỉ tiêu đánh giá về mức độ ô nhiễm chất hữu cơ của bề mặt nước) nhiều khu vực tăng mạnh... Điều đáng nói là N-NH4 ở tất cả cửa sông đều vượt QCVN loại nước A1 như phà Bình Khánh, đập Tam Thôn Hiệp, sông Soài Rạp...
Những người nuôi cá bè trên sông Cái (một con sông trong hệ thống sông Đồng Nai) luôn khốn khổ bởi cá chết hàng loạt do nước sông bị ô nhiễm - Ảnh: Minh Đức
 
Biến dạng
ThS Lê Văn Hợp, người phát ngôn Bộ TN-MT, cho biết đánh giá việc khai thác cát của các cơ sở kinh doanh vật liệu xây dựng cũng đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn. Khi khai thác cát tràn lan sẽ làm đảo nguồn, tạo dòng chảy, gây xói lở cho bờ sông, ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất kinh doanh cũng như vận tải thủy.
“Tôi khuyến cáo các địa phương phải tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ các cơ sở khai thác, kinh doanh cát sỏi. Tốt nhất là các địa phương phải có quy hoạch từng khu vực được phép khai thác và chỉ được khai thác hạn chế mức độ nào đó thôi” - ThS Lê Văn Hợp nói.
Đánh giá tầm quan trọng của sông Đồng Nai đối với đời sống của hơn 17 triệu dân tại các tỉnh thành trong khu vực, TS Nguyễn Văn Ba, phó vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ - môi trường, nói: “Sông Đồng Nai như là động mạch chủ của các tỉnh miền Đông và các tỉnh thành lân cận. Thế nhưng lưu lượng nước trên dòng sông này ngày càng giảm”.
Tài liệu của Hội Tài nguyên nước Việt Nam cho thấy năm 2005, lưu lượng nước trên sông Đồng Nai chỉ cung cấp được khoảng 2.486m3 nước/người/năm (theo tiêu chuẩn quốc tế, nếu một người dân chỉ được sử dụng dưới 4.000m3/người/năm là đã thiếu nước sạch trầm trọng), năm 2010 giảm xuống còn trên 2.000m3/người/năm và tới năm 2020 chỉ còn khoảng 1.770m3/người/năm. Tình hình thiếu nước, dù là nước đang bị ô nhiễm, đang ngày càng gay gắt.
 
Đừng để quá muộn
TS Nguyễn Văn Ba cho rằng lần đầu tiên nhóm chỉ tiêu về môi trường đã được Chính phủ xây dựng đưa vào các chỉ tiêu định hướng phát triển kinh tế - xã hội năm năm (2006-2010) và dành 1% tổng chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp môi trường. Thế nhưng việc đầu tư kinh phí, nguồn lực cho truyền thông bảo vệ môi trường vẫn chưa tương xứng với yêu cầu và nhiệm vụ đề ra.
Từ thực trạng này, KS Nguyễn Văn Phấn - trưởng phòng truyền thông môi trường Tổng cục Môi trường - cho rằng để bảo vệ tốt môi trường lưu vực các sông, nhất là sông Đồng Nai, các khu công nghiệp, doanh nghiệp, bệnh viện cần nâng cao công nghệ xử lý nước thải.
Ông Nguyễn Văn Thùy nhấn mạnh: “Để bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai cần mạnh tay xử lý triệt để nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, khu đô thị, nhất là nước thải từ các khu công nghiệp, doanh nghiệp. Đồng thời kiểm soát chặt chẽ môi trường trong quá trình khai thác khoáng sản và khai thác cát, sỏi.
Bên cạnh đó, cần sử dụng hợp lý phân bón, hóa chất trong chăn nuôi gia súc, gia cầm và phải phát triển diện tích rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển và cây xanh đô thị, xây dựng các công trình thu gom và xử lý nước thải tại các khu đô thị, khu công nghiệp”.
KS Nguyễn Văn Phấn nói: “Vấn đề quan tâm của lưu vực sông Đồng Nai hiện nay là các chủ doanh nghiệp còn ý thức kém trong việc xử lý nguồn nước thải. Trong hội nghị này chúng tôi mời rất nhiều doanh nghiệp đang hoạt động trên lưu vực sông Đồng Nai và Sài Gòn đến dự nhưng theo tôi được biết chỉ có sáu doanh nghiệp quan tâm, tham gia hội nghị”.


(Theo TTO)

Dân “mù” thông tin môi trường

28% số người được hỏi tiếp cận được với tài liệu tuyên truyền về lĩnh vực này, 26% số người tiếp cận được với chủ trương của Đảng về môi trường và 36% về tiếp cận thông tin về luật pháp môi trường.

Do đó, khó đòi hỏi người dân biết được luật mà họ có cơ hội tố cáo, giám sát nạn ô nhiễm ở địa phương. Thông tin trên được mô tả rất đáng quan tâm tại hội thảo về truyền thông bảo vệ hệ thống lưu vực sông Đồng Nai diễn ra tại Bình Dương sáng 30.11.
Dân ít biết thông tin ô nhiễm!
96% số người dân khi được hỏi, họ cho rằng rất muốn biết thông tin ô nhiễm. Nguồn tin cung cấp cho họ quá ít, thậm chí không biết gì. Bởi thế, khó đòi hỏi người dân hiểu luật, vào cuộc giám sát môi trường khi mà họ thiếu cơ hội để tiếp cận nguồn thông tin chính thống từ các cơ quan chuyên môn. Báo cáo trên do Tổng cục Môi trường thực hiện với 1,2 lượt triệu người ở 6 tỉnh Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam và Ninh Bình vừa công bố. Chỉ có 28% người được hỏi tiếp cận được với tài liệu tuyên truyền về lĩnh vực này, 26% người tiếp cận được với chủ trương của Đảng về môi trường và 36% về tiếp cận thông tin về luật pháp môi trường.
Theo T.S Nguyễn Văn Ba, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Ban Tuyên giáo T.Ư “Người dân chưa hiểu biết, có thể xem là “mù” thông tin về môi trường thì làm sao kêu họ giám sát môi trường. Phần đông số người được hỏi đều trả lời là họ cần biết thông tin về môi trường ở mức nào, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của họ không. Đồng Nai là tỉnh dẫn đầu trong 6 tỉnh khi khảo sát có tới 93% số người cho rằng thông tin về môi trường là rất cần thiết.
Việc “mù” thông tin là có thiếu sót nhiều hướng, từ cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan thông tin đại chúng, các chủ cơ sở sản xuất kinh doanh, nhưng chúng ta chưa mang đến cho họ, một nhà chuyên môn đánh giá. Trong đó nhiều nhất có tới 98% ý kiến cho rằng “ dân mù tin” là do cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Còn 95% người khi được hỏi cho rằng chính quyền địa phương cũng phải chịu trách nhiệm đưa thông tin môi trường đến với người dân. Qua khảo sát có đến 18% cơ quan truyền thông chưa quan tâm đưa tin về môi trường”.
Sức ép…
T.S Nguyễn Văn Ba mô tả tầm quan trọng của lưu vực sông như một “động mạch chủ” của cơ thể. Động mạch trong cơ thể “ khổng lồ” với 12 tỉnh thành gồm Đồng Nai, TPHCM, Bình Dương, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Long An đang bị lâm bệnh nặng. Theo ông Ba “Nghiên cứu khảo sát về môi trường nước sông Đồng Nai, chỉ số chất lượng nước sạch giảm trầm trọng. Cụ thể năm 2005 là 2.486m3/người/năm tới năm 2010 còn 2.098m3/người/năm, dự báo đến năm 2040 chỉ còn 1.475m3/người/năm. Ở mức dưới 4.000m3/người/năm là thiếu nước sạch rồi, trong khi số liệu khảo sát hụt đến gần một nửa”.
Nói đến hệ thống lưu vực sông Đồng Nai, ông Nguyễn Văn Thùy, PGĐ Trung tâm Quan trắc môi trường, Tổng cục Môi trường cho biết, con sông này đang chịu sức ép gánh hơn 1,8 triệu mét khối nước thải công nghiệp, hơn 2,7 triệu mét khối nước thải sinh hoạt và một lượng không nhỏ nước thải bệnh viện. Theo Chính phủ phê duyệt, hệ thống lưu vực sông này còn phát triển hơn 100 KCN, KCX, hàng trăm bệnh viện, làng nghề hai bên sông. Những đợt thanh tra, nạn xả lén các doanh nghiệp ở mức giật mình. Bình Dương là tỉnh nổi cộm nạn “xả nước bẩn” ra môi trường có thể nói là “loạn”, một chuyên gia nhận định.

 

 

(Theo DWRM)

Nước sạch về xã ung thư Thạch Sơn

Nước sạch đã về đến tất cả các khu dân cư trong xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao (Phú Thọ). Hiện đã có 1.848 hộ lắp đặt đường ống và đồng hồ nước, trong đó có 1.260 hộ đang sử dụng thường xuyên nguồn nước sạch cho sinh hoạt hàng ngày, đó là khẳng định của ông Lê Quang Vinh, Phó Chủ tịch UBND xã Thạch Sơn.
Trên địa bàn xã Thạch Sơn, nguồn nước ngầm vừa thiếu vừa bị ô nhiễm, nghiêm trọng là các khu 8 và khu 9. Ông Lê Văn Thêm, Trưởng khu dân cư số 8, cho biết: Khu dân cư chúng tôi nằm phía ngoài đê sông Hồng nhưng do nguồn nước bị ô nhiễm nên nước giếng không thể sử dụng trong ăn uống. Tất cả 130 hộ trrong khu đều phải đi mua hoặc xin nước ở khu vực khác về nấu cơm.
Hiện nay, nước sạch được đưa về đến từng nhà vừa đảm bảo sức khoẻ vừa tiết kiệm tiền bạc và công sức nên chúng tôi rất phấn khởi. Nói về hiệu quả của dự án, ông Hoàng Văn Đồng (66 tuổi) cho rằng, Nhà nước đầu tư công trình nước đã giải toả nỗi lo thiếu nước sạch của người dân, đặc biệt giúp người già và trẻ nhỏ không phải sử dụng nguồn nước ô nhiễm.
tt8
Nước sạch đã về xã ung thư Thạch Sơn

Ông Lê Quang Vinh cho biết: Thạch Sơn là xã có tỷ lệ người dân bị mắc ung thư rất cao do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân nguồn nước bị ô nhiễm. Do đó, việc đưa nước sạch về xã là chủ trương rất được người dân ủng hộ.
Công trình nước được chủ đầu tư bàn giao cho xã vào đầu tháng 11/2010. Hiện nay, nước đã về đến tất cả các khu dân cư, trong đó có trên 1.200 hộ đang sử dụng thường xuyên, những hộ còn lại đã lắp đặt đường ống và đồng hồ nước.
Việc một số gia đình chưa sử dụng nguồn nước sạch do các hộ này vẫn còn đang sử dụng nước giếng. Thời gian tới, chúng tôi sẽ vận động các gia đình còn lại sử dụng nước sạch này để giữ gìn sức khoẻ. Xã đã giao cho HTX dịch vụ nông nghiệp và điện năng quản lý và vận hành hệ thống nhằm đảm bảo an toàn cho công trình, giảm tỷ lệ thất thoát nước.
Dự án xây dựng hệ thống nước sạch sinh hoạt cho nhân dân xã Thạch Sơn, thị trấn Lâm Thao và thị trấn Hùng Sơn, do UBND huyện Lâm Thao làm chủ đầu tư với tổng số tiền gần 42 tỷ đồng (ngân sách nhà nước cấp hơn 38 tỷ đồng, người dân đóng góp hơn 3 tỷ đồng), khởi công từ tháng 9/2007, dự kiến hoàn thành vào tháng 3/2008. Tuy nhiên, đến tháng 10/2009 công trình mới được bàn giao cho hai thị trấn Lâm Thao và Hùng Sơn, riêng xã Thạch Sơn bàn giao vào tháng 11/2010 (chậm gần 3 năm).
Xã Thạch Sơn cách đây vài năm được dư luận cả nước biết đến với tỷ lệ người dân ở đây mắc ung thư cao. Do đó, năm 2006, Nhà nước có dự án xây dựng hệ thống cấp nước sạch cho nhân dân xã Thạch Sơn và vùng phụ cận là thị trấn Hùng Sơn và Lâm Thao. Dự án được chia làm 8 gói thầu, trong đó, xã Thạch Sơn có 3 gói thầu, thị trấn Hùng Sơn 2 gói thầu, thị trấn Lâm Thao 3 gói thầu.
Riêng 3 gói thầu ở xã Thạch Sơn có tổng vốn đầu tư 18,5 tỷ đồng lắp đặt đường nước đến đồng hồ của tất cả các hộ trong xã, từ sau đồng hồ đến bể nước, các hộ dân được cấp vật tư và tự lắp đặt. Hai thị trấn Hùng Sơn và Lâm Thao, dự án lắp đặt đường nước đến nhóm hộ.





(Theo Vfej.vn)

Yêu cầu thống kê, trám lấp giếng bỏ hoang

Các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường vừa khuyến cáo cơ quan quản lý môi trường các địa phương đặc biệt lưu ý đến công tác thống kê, rà soát, phát hiện giếng bỏ hoang và trám lấp kịp thời các giếng này để tránh gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước ngầm.

Được biết, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai trong năm 2009-2010 đã phối hợp cùng 7 huyện, thị xã thống kê được gần 1.000 giếng nước đã bị người dân bỏ hoang nhưng không trám lấp.
Dự kiến, cho đến hết năm 2010, Sở này sẽ trám lấp thí điểm gần 100 giếng bỏ hoang ở huyện Long Thành bằng nguồn quỹ bảo vệ môi trường của tỉnh. Các địa phương có số lượng giếng bỏ hoang nhiều là các huyện: Tân Phú, Cẩm Mỹ, Trảng Bom và thị xã Long Khánh.
Công tác trên cần được nhân rộng ra khắp các tỉnh thành chứ không riêng Đồng Nai, bởi hiện trạng nguồn nước ngầm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long có sự xuống cấp nghiêm trọng cả về mực nước lẫn chất lượng nguồn nước.




(Theo SGGPO)