Tue11212017

Last update02:00:00 PM GMT

Tin tức sự kiện

5km phải có một trạm quan trắc chất lượng nước

Đó là đề xuất của nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường khi thiết kế mạng lưới quan trắc, giám sát chất lượng nước trên các ngã ba sông lưu vực sông Nhuệ - Đáy. Bởi theo tính toán của các nhà khoa học, khoảng cách để nước thải hòa trộn hoàn toàn vào nước sông là 5km tính từ vị trí xả thải. Bởi vậy trong khoảng 5km cần có trạm quan trắc để giám sát chất lượng nước một cách hiệu quả.  

Toàn lưu vực sông Nhuệ - Đáy hiện có 59 con sông suối lớn đang tham gia góp nguồn nước vào hệ thống và có khoảng 70 nguồn xả thải các loại vào lưu vực. Sông Đáy chảy qua nhiều thành phố, thị xã, nhiều khu công nghiệp, làng nghề nên chịu sức ép rất lớn về nước thải ô nhiễm. Nguồn nước càng bị tổn thương do các con sông nhỏ khá ô nhiễm từ Hà Nội chảy vào góp dòng, như sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Kim Ngưu, sông Sét. Theo khảo sát, hầu hết các sông suối nhánh đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Phía hữu ngạn của hệ thống sông là khu vực có mật độ dân số và mức độ phát triển kinh tế xã hội thấp hơn tả ngàn.

Hiện trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy đã có các điểm quan trắc thông số chất lượng nước, tuy nhiên chưa thành một mạng lưới thống nhất, tập hợp tác thông số, quan trắc thường xuyên, định kỳ và tuân thủ vùng một quy trình quy phạm, xử lý số liệu. Các điểm quan trắc chất lượng nước hiện có còn nặng tính khảo sát chuyên đề, chưa thống nhất nên chuỗi số liệu quan trắc chưa ổn định.

Khu vực các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Hòa Bình, Ninh Bình vẫn có các đợt quan trắc định kỳ theo quý theo dõi diễn biến chất lượng nước trên sông song chưa thành hệ thống trên toàn lưu vực, chưa thống nhất về thời gian, quy trình quy phạm.

Theo các nhà khoa học, việc đặt trạm quan trắc giám sát chất lượng nước không phải đều đặt theo khoảng cách mà quan trọng là phải đảm bảo quan trắc đầy đủ chất lượng nước trên lưu vực. Vì thế, mật độ trạm quan trắc phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội vùng ven sông, đặc trưng thủy văn, thủy lực của từng đoạn sông, cũng như bao quát các tỉnh, thành nơi dòng sông chảy qua.

Việc thiết kế hệ thống mạng quan trắc còn phụ thuộc vào mục đích sử dụng nước trên khu vực. Đặc biệt vùng hạ du của hệ thống thuộc khu vực tỉnh Hà Nam, nước sông được sử dụng cho cấp nước sinh hoạt với yêu cầu chất lượng cao, vì thế trạm quan trắc cần ken dày hơn để đảm bảo giám sát, kip thời có biện pháp kiểm soát chất lượng nước.

 

(Theo Monre.gov.vn)

Cục Quản lý tài nguyên nước: Cấp 62 giấy phép tài nguyên nước

Theo thống kê của Cục Quản lý tài nguyên nước, đến nay, Cục đã tiếp nhận và thẩm định 95 bộ hồ sơ đề nghị cấp phép tài nguyên nước các loại; cấp được 62 giấy phép. Trong số đó, có 24 giấy phép thăm dò, khai thác sử dụng nước dưới đất; 21 giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt; 5 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và 12 giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất. 

Số hồ sơ còn lại đang trong quá trình thẩm định, yêu cầu sửa chữa, bổ sung, hoàn chỉnh. Đến nay, Cục đã thu được 510 triệu đồng trên tổng số 600 triệu đồng thu phí, lệ phí cấp phép theo kế hoạch được giao cả năm. Công tác cấp phép tài nguyên nước được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 149/2004/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

 

(Theo Monre.gov.vn)

Đồng Nai: Sẽ trám lấp gần một ngàn giếng bỏ hoang

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Naicho biết, trong năm 2009-2010, Sở đã phối hợp cùng 7 huyện, thị thống kê được gần một ngàn giếng nước người dân ngưng sử dụng và bỏ hoang không trám lấp.

 Để tránh ô nhiễm và đảm bảo nguồn nước ngầm, trong năm 2010- 2011, Sở sẽ cùng với các địa phương tiến hành trám lấp các giếng bỏ hoang. Dự kiến, từ nay đến hết năm 2010, Sở sẽ trám lấp thí điểm gần 100 giếng bỏ hoang ở huyện Long Thành bằng nguồn quỹ bảo vệ môi trường của tỉnh. Các địa phương có số lượng giếng bỏ hoang nhiều là các huyện: Tân Phú, Cẩm Mỹ, Trảng Bom và TX.Long Khánh. Hiện vẫn còn 4 địa phương chưa thống kê xong số lượng giếng bỏ hoang là Nhơn Trạch, Định Quán, Xuân Lộc và TP. Biên Hòa./.

 

(Theo Monre.gov.vn)

Hải Phòng: Phấn đấu 91% số hộ ở nông thôn được sử dụng nước sạch

Đến thời điểm này, tỷ lệ người dân vùng nông thôn Hải Phòng được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 86%, trong đó, có 36% được cấp nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Đây là những cố gắng đáng ghi nhận của thành phố.

Trước năm 2003, người dân ở Hải Phòng chủ yếu sử dụng nguồn nước từ các giếng khoan tay UNICEF, giếng đào và các bể chứa nước mưa. Đến hết năm 2002, toàn thành phố chỉ có 20 hệ cấp nước tập trung với quy mô trung bình tại các huyện: Vĩnh Bảo, An Lão, Kiến Thụy, An Dương, Thủy Nguyên. Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh mới đạt 49,5%. Sau khi có Nghị quyết số 51 của HĐND thành phố, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp chặt chẽ với các Sở, ngành liên quan và các địa phương triển khai nghị quyết trên diện rộng. Ngay từ khi triển khai chương trình, Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn tư vấn các địa phương thực hiện mô hình xã hội hóa công tác cung cấp nước sạch bằng cách kêu gọi, vận động các tập thể, cá nhân bỏ vốn đầu tư các công trình cung cấp nước sạch... Bằng cách này, ở một vài địa phương có được những kết quả bước đầu. Điển hình như tại An Lão, Công ty TNHH Trang Anh đầu tư 520 triệu đồng xây dựng nhà máy và lắp đặt đường ống nước đến từng hộ dân. Tại Kiến Thụy có 70% hệ cấp nước tập trung do các doanh nghiệp đầu tư. Tại một số địa phương khác, chính quyền cơ sở đứng ra vận động những người con xa quê hương có điều kiện, các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân hoặc tập thể đầu tư góp vốn đối ứng trước rồi thu hồi của từng hộ dân sau. Nhờ vậy, đến nay, trên địa bàn thành phố có 142 hệ cấp nước tập trung. Trong đó, năm 2010, các huyện xây dựng mới 25 hệ cấp nước tập trung. Hiện số hộ dân ngoại thành được sử dụng nước sạch từ các hệ cấp nước tập trung hơn 41%. Tính đến thời điểm này, tổng mức đầu tư các công trình cung cấp nước sạch nông thôn của thành phố trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010 lên đến hàng chục tỷ đồng.

Hết năm 2010, thành phố phấn đấu nâng tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh lên 91%, trong đó, 45% số hộ được sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung. Hiện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng địa phương đang dồn sức để mục tiêu này được hoàn thành./.

 

(Theo Monre.gov.vn)

 

Bình Phước: Các công ty thủy điện cần tuân thủ đúng quy trình vận hành hồ chứa, đảm bảo cho hạ du

Các công ty thủy điện cần tuân thủ đúng quy trình vận hành hồ chứa để đảm bảo cho hạ du, đó là ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Bùi Văn Thạch đối với các công ty thủy điện trên địa bàn tỉnh về quy trình vận hành hồ chứa nước, đảm bảo an toàn cho hạ du.
Được biết, hiện trên địa bàn Bình Phước có 3 công trình thủy điện lớn là thủy điện Cần Đơn, thủy điện Srok Phu Miêng và thủy điện Thác Mơ. Ngoài ra còn có rất nhiều công trình thủy điện nhỏ khác. Tại buổi làm việc, các đại diện của các công ty chủ quản các đập thủy điện lớn đã thông qua công tác của đơn vị trong đó ưu tiên việc kiểm tra các hồ, đập; sớm phát hiện vùng bị sạt lở để chủ động ứng phó kịp thời với tình huống mưa, lũ lớn xảy ra; sẵn sàng xử lý các sự cố, vận hành bảo đảm an toàn hồ chứa. 
Theo báo cáo tình hình thực hiện và những kiến nghị của 3 công ty thủy điện trên thì khó khăn nhất trong việc vận hành hồ chứa hiện nay là người dân còn vi phạm hành lang an toàn đập cũng như tái lấn chiếm lòng hồ khá nhiều đã gây khó khăn cho quá trình vận hành. Bên cạnh đó, các quy trình vận hành của nhà máy đã được xây dựng lâu nên không còn phù hợp với thực tế hiện nay ở lưu vực, kể cả việc phối hợp và chia sẻ thông tin trong quá trình vận hành liên hồ cũng rất hạn chế.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Bùi Văn Thạch đã giao Sở Công Thương phải tăng cường các biện pháp quản lý và kiểm tra về công tác an toàn và vận hành hồ chứa của các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh. Các đơn vị cần phải phối hợp với các ngành chức năng để xây dựng lại quy chế vận hành hồ chứa phù hợp với tình hình hiện tại; phải đặt yêu cầu về an toàn đập lên hàng đầu. Đặc biệt đối với các nhà máy thủy điện cần phải chấp hành nghiêm túc các quy trình về vận hành hồ chứa và công tác xả lũ, điều tiết hồ. Các đơn vị chủ đập thủy điện cần thường xuyên kiểm tra các hồ, đập, sớm phát hiện vùng bị sạt lở để chủ động ứng phó kịp thời với tình huống mưa, lũ lớn xảy ra, sẵn sàng xử lý các sự cố, vận hành đảm bảo an toàn hồ chứa và vùng hạ du khi xả lũ.

(Theo Monre.gov.vn)

TP.HCM: Có nước máy vẫn xài nước ngầm

Mỗi năm, Tổng công ty cấp nước Sài Gòn (Sawaco) tốn hàng tỷ đồng để phát triển mạng lưới cấp nước trên địa bàn TP HCM. Song, thói quen khai thác và sử dụng nước ngầm của người dân không giảm mà có chiều hướng tăng lên.

Sở Tài nguyên – Môi trường TP HCM đã đưa ra các cảnh báo về sự suy giảm chất lượng nước ngầm, trong đó ở khu vực quận Gò Vấp là đặc biệt nghiêm trọng bởi hàm lượng nitơ (NO3 ) vượt quá tiêu chuẩn nước dùng cho ăn uống…

90% hộ dân sử dụng giếng khoan


Tại khu vực quận 12 và Gò Vấp, trên 90% hộ dân sử dụng giếng khoan tại nhà, nhiều gia đình gắn đồng hồ nước nhưng chưa lắp hệ thống ống nước trong nhà hoặc đấu nối sử dụng chung hai nguồn nước. Bà Võ Thị Hồng Hà, Phó giám đốc kinh doanh Công ty TNHH Một thành viên cấp nước Trung An (trực thuộc Sawaco), lo ngại: “Trên địa bàn công ty quản lý, rất nhiều hộ dân sống xen kẽ với những khu nghĩa địa dòng tộc tự phát, nhiều kênh rạch bị ô nhiễm do chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp sản xuất đã làm ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm mà bà con sử dụng hàng ngày”. Theo bà Hà, tâm lý trả tiền điện để bơm nước rẻ hơn xài nước máy đang phổ biến; mỗi tháng có từ 10 đến 20 hộ dân xin huỷ đồng hồ nước đã lắp…


Ông Phạm Mạnh Đức, Giám đốc Công ty CP cấp nước Chợ Lớn, cho biết: “Theo Nghị định mới 171 của Chính phủ, việc gắn đồng hồ nước cho dân hoàn toàn miễn phí nhưng gắn xong, bà con lại không sử dụng. Lãng phí tài sản của doanh nghiệp đã đành nhưng quan trọng hơn là sức khỏe của người dân vì đâu phải chất lượng nước ngầm chỗ nào cũng đảm bảo, chưa kể nó ảnh hưởng đến môi trường nếu cứ khai thác quá mức”.


Bệnh viện cũng xài nước ngầm


Theo Công ty Trung An, hiện có những cơ quan, đơn vị dù được lắp đặt đồng hồ nước, vẫn khai thác nước ngầm với công suất lớn để sử dụng như bệnh viện 175, bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vũ Anh, ĐH Công nghiệp, Công ty phần mềm Quang Trung… “Chúng tôi lắp đặt đường ống 100 mm, số lượng nước có thể cung cấp là vài chục nghìn m3 mỗi tháng nhưng bệnh viện 175 chỉ tiêu thụ 200 – 400 m3. Bệnh viện Đa khoa Vũ Anh cũng chỉ tiêu thụ dưới 100 m3 một tháng trong khi công suất tối thiểu công ty lắp đặt là 6.000 m3”, bà Hà cho biết.

 

tt20

Bệnh viện đa khoa quốc tế Vũ Anh chỉ tiêu thụ mỗi tháng chưa đến 100 m3 nước máy.

 

Tương tự, theo ông Phạm Mạnh Đức, các khu công nghiệp như Tân Tạo, Vĩnh Lộc, Lê Minh Xuân, Pouchen… cũng sử dụng hai nguồn nước trong khi áp lực nước nơi đây đều đảm bảo.

Vận động vẫn là chính


Thời gian qua, các công ty thành viên của Sawaco đã chủ động phối hợp với chính quyền tổ chức hội nghị khách hàng tuyên truyền vận động người dân từng bước bỏ thói quen sử dụng nước giếng, đồng thời đổi mới thủ tục cấp và lắp đặt đồng hồ nước sao cho nhanh gọn. “Tuy nhiên, sự chuyển biến của người dân trong địa bàn chưa có chiều hướng cải thiện. Lượng nước sạch tiêu thụ bình quân mới chỉ đạt xấp xỉ 50 lít mỗi người một ngày, thấp xa so với chỉ tiêu của thành phố từ 120 đến 180 lít”, báo cáo của Công ty cấp nước Trung An nêu rõ.


Trong khi đó, “vũ khí” giúp bảo vệ và quản lý tài nguyên nước của thành phố là Quyết định số 69 ban hành ngày 3.5.2007 của UBND TP HCM kèm Quy định về hạn chế và cấm khai thác nước dưới đất trên địa bàn TP HCM vẫn chưa phát huy hiệu quả. “Hiện nay chưa có biện pháp chế tài kèm theo nhằm thực thi nghiêm Quyết định này. Điều này cũng gây không ít khó khăn trong việc vận động thay đổi thói quen sử dụng nước của người dân”, bà Hà nhấn mạnh.

 

Theo Sawaco, hiện nay, trên địa bàn TP HCM có 140.000 hộ dân sử dụng song song nước ngầm và nước máy. Cụ thể, có 53.607 hộ hoàn toàn không sử dụng nước máy (chỉ số đồng hồ nước bằng 0), 19.275 hộ chỉ xài 1m3 một tháng, tập trung nhiều nhất ở khu vực quận 6, 8, 12, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Bình Chánh, Gò Vấp.

 

 

(Theo BaodatViet.vn)

 

 

 

 

 

 

 



Dân “khát”, trạm cấp nước “đắp chiếu”

tt19Theo báo cáo của Văn phòng Thường trực quốc gia về vệ sinh và môi trường nước sạch, hiện mới có 40% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia do Bộ Y tế ban hành.

Tại Hà Nội, 5 huyện (Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Sóc Sơn, Từ Liêm) tỷ lệ cấp nước sạch mới đạt 15%, tại 8 huyện của tỉnh Hà Tây trước kia và huyện Mê Linh tỷ lệ đó mới được khoảng 1%, riêng thị xã Sơn Tây, tình hình có khả quan hơn, tỷ lệ cấp nước sạch đạt 72%. Trong khi người dân ở nhiều huyện ngoại thành chưa có điều kiện được sử dụng nước sạch thì tồn tại một nghịch lý, đó là hàng chục công trình cấp nước sạch ở khu vực nông thôn với tổng số vốn đầu tư lên tới gần 100 tỷ đồng hiện đang "đắp chiếu", hầu hết máy móc, trang thiết bị xuống cấp hoặc hư hỏng nặng…

Gần 100 tỷ đồng đầu tư rồi "đắp chiếu"


Hệ thống máy bơm Trạm cấp nước Phù Đổng (Gia Lâm) 7 năm nay mỗi tuần chỉ vận hành một lần cho... vui.


Những năm qua TP Hà Nội đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng các công trình cung cấp nước sạch phục vụ nhân dân các huyện ngoại thành. Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ có 85 trạm hoạt động và vẫn còn 16 trạm cấp nước sạch ở 11 huyện được đầu tư với tổng kinh phí là gần 100 tỷ đồng chưa được đưa vào khai thác, cấp nước phục vụ nhân dân. Cũng bởi lý do đó mà những trạm cấp nước này đã xuống cấp nghiêm trọng. Trong đó, có 3 trạm cấp nước tại các xã Liên Bạt, Quảng Phú Cầu (Ứng Hòa), xã Xuân Dương (Thanh Oai) chuyển tiếp, hiện đang được các huyện tiếp tục triển khai với tổng số tiền đầu tư cả 2 giai đoạn 40 tỷ đồng; 4 công trình đã bàn giao cho các doanh nghiệp thi công gồm các trạm cấp nước ở xã Dương Liễu (Hoài Đức), thị trấn Chúc Sơn (Chương Mỹ), thị trấn Quốc Oai (Quốc Oai), thị trấn Phùng (Đan Phượng); còn lại 9 công trình xây dựng dở dang đang nằm "đắp chiếu" hiện vẫn chưa có phương án xử lý.


Giám đốc Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội Vũ Bình Nguyên cho biết: Do lâu ngày không đưa vào sử dụng, không quản lý, bảo dưỡng nên hiện hầu hết máy móc, trang thiết bị của các công trình trên đều hư hỏng nặng, nhiều hạng mục không còn khả năng sử dụng; hệ thống bể chứa bị rò, thấm; đường ống dẫn nước bị bục vỡ, han gỉ.


Điển hình phải kể đến Trạm cấp nước sạch thôn Đoan Lữ, xã An Mỹ (Mỹ Đức). Sau 3 năm thi công, 5 trạm cấp nước thôn Đoan Lữ đã hoàn thành với tổng kinh phí đầu tư trên 600 triệu đồng, công suất 308m3/ngày đêm, cung cấp nước sinh hoạt cho 4.000 người. Tuy nhiên, do nguồn nước cấp đầu vào trạm (mặt nước sông Đáy) bị ô nhiễm nặng nên sau khi hoàn thành trạm không đưa vào sử dụng. Đến nay, tất cả các hạng mục như hệ thống bơm hút, cụm xử lý nước, bể chứa nước, hệ thống bơm đẩy... của trạm cấp nước này đã xuống cấp nghiêm trọng.


Tương tự, trạm cấp nước xã Tân Tiến (Chương Mỹ) được xây dựng từ năm 2006, với tổng mức đầu tư 2,5 tỷ đồng, do UBND xã làm chủ đầu tư. Theo Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội, do chính quyền địa phương thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ công trình sau khi hoàn thành nên một số trang thiết bị của trạm cấp nước này bị mất, hư hỏng. Cụ thể, tại thời điểm kiểm tra (tháng 7-2010) trạm chỉ còn 2/3 cụm giếng khoan và bơm khai thác; một số đoạn đường ống nước dịch vụ đã bị người dân trong xã tháo dỡ.


Ngoài hai trạm nêu trên còn nhiều trạm được đầu tư đến cả chục tỷ đồng vẫn chưa đưa vào sử dụng như Trạm cấp nước xã Liên Bạt (Ứng Hòa) trên 13,2 tỷ đồng; Trạm cấp nước xã Xuân Dương (Thanh Oai) gần 10,2 tỷ đồng…


Đẩy nhanh tiến độ phục hồi


Những công trình cấp nước sạch như thế này tại nhiều huyện ngoại thành Hà Nội được hoàn thiện rồi “đắp chiếu” nhiều năm nay.


Đó là nguyện vọng chính đáng của đông đảo nhân dân các địa phương đang có công trình cấp nước sạch bỏ hoang. Trao đổi về vấn đề này, ông Vũ Bình Nguyên cho biết, ngay sau khi có kết quả khảo sát các công trình cấp nước tập trung không hoạt động trên địa bàn, Trung tâm đã có tờ trình báo cáo Sở NN&PTNT những tồn tại của các trạm cấp nước; đồng thời xin chủ trương lập dự án phục hồi các trạm cấp nước không hoạt động trên địa bàn TP. Để xử lý các trạm cấp nước tập trung bỏ hoang lâu ngày không thể một sớm một chiều, bởi nguyên nhân dẫn đến việc các trạm không đưa vào sử dụng mỗi địa phương một khác. Tuy nhiên, nguyên nhân chính khiến các trạm cấp nước tập trung "đắp chiếu" dài ngày là do khi triển khai các dự án nhà nước đã có quy định ngoài số vốn đầu tư của Nhà nước (khoảng 60% tổng số vốn đầu tư công trình), các địa phương hưởng lợi dự án phải huy động 40% nguồn vốn còn lại. Nhưng khi triển khai hầu hết các địa phương đều không thực hiện đúng các cam kết về số vốn đối ứng, do vậy, các công trình hoàn thành giai đoạn 1 (phần vốn nhà nước) thế là công trình để đấy. Ngoài ra, một số địa phương được hưởng dự án thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ công trình sau khi nhận bàn giao... là nguyên nhân khiến các trạm cấp nước bị bỏ hoang lãng phí nhiều năm. "Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận nguyên nhân do trong quá trình lập dự án, trình UBND TP phê duyệt, do quá nóng vội để "kéo" dự án về địa phương trong khi chưa điều tra, khảo sát kỹ nhu cầu sử dụng nước sạch và khả năng chi trả của người dân nên đã để cả núi của lãng phí" - ông Vũ Bình Nguyên cho biết.


Giải pháp để sớm xóa các trạm cấp nước đang "đắp chiếu" và đưa vào khai thác, cung cấp nước sạch cho người dân các huyện ngoại thành, Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội đề nghị UBND TP cho phép xây dựng một dự án tổng thể đánh giá toàn bộ những tồn tại của các trạm cấp nước không hoạt động trên địa bàn các huyện, trên cơ sở đó kêu gọi đầu tư nhằm sớm phục hồi lại hoạt động của các trạm cấp nước này. Mặt khác, đề nghị UBND TP bổ sung kịp thời cơ chế, chính sách phù hợp để kêu gọi các nhà đầu tư tham gia vào công tác đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành và tổ chức khai thác các trạm cấp nước.

 

(Theo HNM)

Lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính lên mức kỷ lục

Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) cho biết, trong năm qua, lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính đã đạt mức kỷ lục, đặc biệt là khí CO2 và khí methane, trong khi Trái đất không ngừng nóng lên.

Theo những số liệu mới nhất của WMO, nồng độ khí CO2 và methane đã tăng lên đáng kể trong năm 2009.

Trước năm 1750, hàm lượng CO2 trong bầu khí quyển không thay đổi. Tuy nhiên, kể từ sau đó, hàm lượng khí này đã tăng 38%, chủ yếu là do việc đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch, nạn phá rừng và những thay đổi về việc sử dụng đất đai.

 

tt18

Các hoạt động của con người đã làm gia tăng đáng kể khí thải gây hiệu ứng nhà kính

Trong 10 năm qua, những hoạt động trên đã tăng nhanh với sự gia tăng nồng độ khí CO2 trung bình 1,88%/năm.
Về khí methane, loại khí gây hiệu ứng nhà kính lớn thứ hai, hàm lượng khí này trong bầu khí quyển cũng đã tăng 158%, chủ yếu do các hoạt động của con người như việc chăn nuôi bò, trồng lúa, khai thác các nhiên liệu hóa thạch và đổ các chất thải.

Theo Phó Tổng thư ký của WMO Jeremiah Lengoasa, lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính đã đạt mức cao chưa từng thấy kể từ thời tiền công nghiệp. Nồng độ của những loại khí này vẫn tăng mặc dù “nền kinh tế đã tăng trưởng chậm lại".

(Theo DWRM)