Sun11182018

Last update12:39:09 AM GMT

Tin tức sự kiện

An Giang: Khoan giếng bơm nước tưới cho lúa, gây ảnh hưởng môi trường

Thời gian qua, mặc dù đã có đường bơm nước bơm bằng điện để phục vụ tưới lúa, nhưng nhiều nông dân ở xã Châu Phong, thị xã Tân Châu ( An Giang ) đã lấy lý do nước bơm không đủ đáp ứng nhu cầu, hàng chục hộ dân đã tự đào giếng khoan ngay chân ruộng và đặt máy bơm rút nước lên tưới lúa, gây nên tình trạng ô nhiệm môi trường sản xuất, xuất hiện tình trạng đất bị dậy phèn, ảnh hưởng đến môi trường sản xuất nông nghiệp ở địa phương.  
Trên địa bàn xã này hiện nay đã có 23 giếng khoan đang sử dụng để phục vụ sản xuất nông nghiệp, tập trung chủ yếu ở ấp Vĩnh Lợi 1. Theo điều tra thì có 14 giếng khoan được khoan từ năm 2002 đến năm 2006, riêng trong năm 2010, trên địa bàn xã có 9 chủ đất tự khoan giếng đều không xin phép. Địa phương đã phát hiện kịp thời, tạm giữ phương tiện và xử phạt vi phạm hành chính 2 đơn vị thi công không có giấy phép hành nghề. Đồng thời lập biên bản yêu cầu 9 hộ sử dụng giếng khoan không có giấy phép phải lấp giếng, theo hướng dẫn của Sở Tài nguyên và Môi trường.
Anh Nguyễn Trung Giang, cán bộ địa chính xã Châu Phong cho hay, trước năm 2009, đã xảy ra tình trạng bà con tự ý đào giếng tại các chân ruộng có đất cao (đất gò) để bơm tăng cường khi thiếu nước. Từ năm 2009 đến nay, khi lượng giếng khoan bắt đầu nhiều thì đã xảy ra hiện tượng nước bị dậy phèn, Thị xã Tân Châu đã tiến hành khảo sát và đề nghị bà con không được khoan giếng để địa phương tìm biện pháp giải quyết. Tuy nhiên, do thấy cái lợi trước mắt nên riêng ở xã Châu Phong đã có nhiều hộ đào hoặc thuê mướn đào thêm giếng. 
Anh Nguyễn Văn Toàn, chủ máy bơm giếng tự phát cho biết, anh đào giếng mấy năm nay do đường nước chung không đủ đáp ứng sản xuất. Có giếng, máy bơm riêng có thể chủ động nguồn nước. Mỗi giếng từ tiền công đến máy móc khoảng trên dưới 6 triệu đồng, có thể phục vụ diện tích từ vài công đết đến một vài ha, tùy công suất máy và một hay hai mũi khoan. Tuy nhiên, anh cũng thừa nhận nước giếng của anh đang nghi bị nhiễm phèn, một số hộ dân cùng khu vực cho biết là một số giếng đào khác còn xuất hiện màng khí vàng đỏ, mùi khó chịu khi tiến hành bơm nước lên.
Theo anh Phạm Đăng Thân , Chủ tịch UBND xã Châu Phong, một cái khó khác của địa phương là những quy định của pháp luật đối với công tác xử lý đào giếng chưa cụ thể, rõ ràng nên địa phương đang gặp lúng túng. Việc đào giếng tự phát thời gian qua ngoài ảnh hưởng đến nguồn đất mặt nhiễm phèn, còn tác động xấu đến việc chủ động trong quy hoạch sản xuất, xuống giống đồng loạt theo lịch thời vụ của địa phương.   
(Theo Monre.gov.vn)
  

Hà Nội vẫn còn 16 trạm cấp nước ở nông thôn chưa hoạt động

Để góp phần thực hiện mục tiêu, đến năm 2020 tất cả dân cư khu vực nông thôn trên cả nước được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn theo Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, thời gian qua, thành phố Hà Nội đã đầu tư kinh phí xây dựng rất nhiều công trình cấp nước cho người dân khu vực ngoại thành. 
Đa số các công trình này đang hoạt động hiệu quả, đã nâng tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch trên địa bàn ngày một cao và môi trường sống khu vực nông thôn cũng từng bước được cải thiện. Đến thời điểm này, hơn 80 % số dân ở khu vực nông thôn Thủ đô đã được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó có 32%    được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Tuy nhiên, hiện nay, ngoài 85 trạm cấp nước tập trung ở khu vực nông thôn đã đầu tư xây dựng và đang hoạt động hiệu quả, Hà Nội   vẫn còn 16 trạm cấp nước chưa đi vào hoạt động.   
Trao đổi với phóng viên về vấn đề này, ông Vũ Bình Nguyên, Giám đốc Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội cho biết: Sau khi đơn vị này phối hợp với phòng Kinh tế của các huyện ngoại thành tiến hành khảo sát, kiểm tra, đã cho thấy: Hiện nay, khu vực nông thôn Hà Nội vẫn còn 16 trạm cấp nước tập trung chưa hoạt động. Trong đó, có 3 trạm tại các xã Xuân Dương (huyện Thanh Oai), Liên Bạt (Ứng Hòa) và Quảng Phú Cầu (Ứng Hòa) đã được chuyển tiếp cho các huyện quản lý và đã được các địa phương tiến hành làm các thủ tục để xây dựng trong giai đoạn 2 từ nguồn kinh phí của thành phố; 4 trạm tại các thị trấn Chúc Sơn (Chương Mỹ); Phùng (Đan Phượng), Quốc Oai (Quốc Oai) và xã Dương Liễu (Hoài Đức) cũng đang được các doanh nghiệp nhận triển khai xây dựng. Còn lại 9 công trình ở một số xã như: Tam Hiệp (Phúc Thọ), Phùng Xá (Thạch Thất), Kim Lan (Gia Lâm), An Mỹ (Mỹ Đức)... đã đầu tư xây dựng nhưng hiện nay vẫn chưa thể hoạt động do xây dựng dở dang hoặc đầu tư chưa đồng bộ.   
Để có những đánh giá đầy đủ, thấu đáo nguyên nhân của tình trạng này, theo Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường Hà Nội cần có sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chính quyền để đánh giá tổng thể, đồng bộ hơn.Tuy nhiên, sơ bộ nguyên nhân một số trạm cấp nước đã được đầu tư xây dựng từ những năm đầu của thập niên 2000 mà đến nay vẫn chưa được vào khai thác được   là do: Công tác khảo sát, nắm bắt nhu cầu sử dụng và khả năng chi trả của người dân chưa được tiến hành một cách thật sự cẩn thận; cơ cấu bố trí vốn chưa tương xứng với nhu cầu, tiến độ xây dựng đặt ra; công tác quản lý nguồn tài nguyên nước chưa chặt chẽ, dẫn đến một bộ phận người dân không hưởng ứng việc    dùng nước sạch từ các dự án cấp nước tập trung... 
Thực trạng này đang đòi hỏi các ngành liên quan, các cấp chính quyền   của thành phố Hà Nội và các doanh nghiệp cần nhanh chóng tiến hành hoàn thiện các công trình cấp nước, nhất là các công trình không hoạt động được do đầu tư chưa đồng bộ hoặc xây dựng dở dang. Có như vậy, mới tránh được lãng phí và Hà Nội cũng mới có thể hoàn thành mục tiêu đến năm 2015, 100% dân số khu vực nông thôn Thủ đô được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; trong đó phấn đấu 60% dân số nông thôn ngoại thành thành Hà Nội được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế với số lượng 100 lít /người/ ngày. 
Hiện Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội đã đề nghị cơ quan chủ quản là Sở NN&PTNT Hà Nội xem xét và tiếp trình UBND thành phố Hà Nội cho phép Trung tâm được tiến hành nghiên cứu, lập Dự án tổng thể phục hồi hoạt động của các trạm cấp nước không hoạt động.  
(Theo Monre.gov.vn)
  

Trung Quốc trồng khoai tây để chống hạn hán

Thu hoạch khoai tây ở tỉnh Hắc Long Giang.Trước tình trạng thiếu triền miên nước tưới cho nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp trong khi nhu cầu lương thực ngày càng lớn, chính phủ Trung Quốc đang khuyến khích nông dân trồng khoai tây để có “một mũi tên trúng 3 đích”.
Trung Quốc từng là nước trồng khoai tây lớn nhất thế giới, với 5 triệu hecta đất trồng loại cây này vào năm 2007, chiếm 25% tổng sản lượng của toàn cầu. Hiện hầu hết sản lượng củ thu hoạch được là cho tiêu thụ trong nước. “Khoai tây có khả năng ‘kháng hạn’ tốt hơn nhiều gạo và lúa mì, rất thích hợp với Trung Quốc khi 60% diện tích đất trồng trọt của nước này bị khô hạn”, Qu Dongyu, một chuyên gia nông nghiệp của Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc nói.
Trung Quốc, bị ảnh hưởng nặng nặng nề bởi lụt lội, nhưng cũng thiếu khoảng 30 triệu mét khối nước cho tưới tiêu mỗi năm. Trung Quốc chỉ chiếm 6% tài nguyên nước trên thế giới. Tình hình thiếu nước mỗi lúc càng nghiêm trọng, nhất là ở các tỉnh phía Bắc. Vì thế, người dân không thể nào trồng được ngô nữa.
Mặt khác, diện tích đất canh tác của nước này chỉ chiếm 8% của thế giới. Diện tích này càng ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng. Trong khi đó, dân số Trung Quốc chiếm đến 20% dân số thế giới. Vì thế, cần một lượng thực phẩm bổ sung lớn để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

Trong khi đó, chính việc thiếu sự tiếp cận với các kỹ thuật tiên tiến đã cản trở đà phát triển của ngành nông nghiệp trồng cây khoai tây: chỉ 25% giống cây trồng được chứng nhận không sâu bệnh và chỉ 1% nông dân dùng máy móc trong sản xuất khoai tây. Ngoài ra, hầu hết các nông dân thiếu hiểu biết về vật gây hại và phương pháp kiểm soát sâu bệnh.

Để tăng năng suất hơn nữa, chính phủ đã kêu gọi các nhà khoa học tham gia nghiên cứu cải tiến giống khoai tây để cung cấp cho nông dân. Thành tựu kinh tế của cuộc “cách mạng nông nghiệp” này rất lớn. Ở một vài vùng, giá bán ra của khoai tây đã cao hơn gấp 3 lần giá của lúa.

Trong tình hình thu nhập người thành thị tăng nhanh hơn thu nhập người nông thôn, chính phủ đang tìm cách tăng nguồn thu cho người nông thôn, nhằm giảm nguy cơ bất bình trong dân và bất ổn xã hội. Dư luận cho rằng chính sách này của chính phủ không chỉ có lợi cho nông dân. Thị trường 1,3 tỷ người thu hút nhiều nhà đầu tư, nhất là giới công nghiệp nông - thực phẩm. Nhiều người đã trở nên giàu có nhờ kinh doanh khoai tây.




(Theo Việt Hà - Dantri.com)

Nguồn nước ngầm có nguy cơ bị ô nhiễm

Hiện cách xử lý rác thải tại các đô thị lớn của Việt Nam gần 90% bằng cách chôn lấp. Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu khiến nhiều tỉnh, thành bị chìm trong nước, đặc biệt là tại Nam bộ, vì vậy, nguy cơ nguồn nước ngầm tại đây bị ô nhiễm là rất cao.

Đó là thông tin được đưa ra tại Hội thảo Bảo vệ môi trường đô thị và khu công nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu do Đại học quốc gia TPHCM phối hợp với Viện Môi trường và Tài nguyên cùng phối hợp tổ chức tại TPHCM, ngày 2-12.

Theo ông Nguyễn Văn Phước, Viện trưởng Viện Môi trường và Tài Nguyên, hiện trung bình bình mỗi ngày có 21.500 tấn chất thải rắn được thải ra từ các đô thị trên cả nước, trong đó, khoảng 90% được chôn lấp tại và trong trường hợp các bãi rác này bị rò rỉ nước do ngập thì nguy cơ suy thoái nguồn nước bề mặt và nguồn nước ngầm rất dễ xảy ra.

Ông Bùi Cách Tuyến, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, xử lý chất thải đang này càng tăng là một trong những vấn đề cần phải làm của các đô thị, đặc biệt những đô thị luôn bị chìm ngập như TPHCM, Cần Thơ do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

“Hiện gần 90% rác thải tại các đô thị được xử lý bằng cách chôn lấp nên nguy cơ nước thải từ các khu xử lý này rò rỉ và không phù hợp với các đô thị luôn bị ngập bởi ảnh hưởng của biến đổi khí hậu” ông Tuyến nói.

Ngoài ra, theo ông Lâm Minh Triết, Viện trưởng Viện Kỹ thuật tài nguyên nước và Môi trường, thách thức lớn nhất của biến đổi khí hậu mà Việt Nam đang đối diện là nguồn nước trong tự nhiên phân bổ không đều tại các tháng trong năm, do vậy, các đô thị, khu công nghiệp tại các tỉnh ven biển sẽ bị rơi vào cảnh thừa mà thiếu nước trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM, hiện toàn thành phố có 154 xã, phường thường xuyên bị ngập úng. Dự kiến thời gian tới số xã phường bị ngập sẽ không giảm mà còn tăng lên 177 xã phường, chiếm 61% diện tích thành phố. Nguyên nhân, theo Sở Tài nguyên và Môi trường là do TPHCM là một 10 thành phố của thế giới bị đe dọa nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu.

(Theo Ngọc Hùng - Thời báo kinh tế Sài Gòn)

Quy hoạch hồ chứa thủy điện, thủy lợi: Hầu hết chưa đánh giá tác động môi trường chiến lược

tt49Hồ chứa nước là cơ sở hạ tầng để sử dụng tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an ninh về nguồn nước cho con người, phục vụ phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, hầu hết quy hoạch hồ chứa mới chỉ có đánh giá tác động môi trường mà chưa đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) như quy định của pháp luật.

 

Chưa đánh giá ĐMC

Hiện nay, cả nước đã xây dựng hơn 2.100 hồ chứa có dung tích mỗi hồ từ 0,5 triệu m3 trở lên với tổng dung tích trữ nước gần 41 tỷ m3, khai thác được trên 8000 MW điện, chiếm gần 40% tổng công suất lắp máy của toàn hệ thống điện quốc gia; bảo đảm nước tưới cho trên 50 vạn hécta, góp phần bảo đảm an ninh lương thực và năng lượng cho đất nước. Hiện tại, Việt Nam đang xây dựng khoảng gần 240 hồ, tổng dung tích hơn 21 tỷ m3, công suất lắp máy gần 9.000 MW và trên 500 hồ đã có quy hoạch sẽ được xây dựng trong vài năm tới, tổng dung tích gần 4 tỷ m3, công suất lắp máy hơn 4.200 MW.

Tuy nhiên, PGS.TS. Lê Bắc Huỳnh cho rằng, hầu hết quy hoạch hồ chứa mới chỉ có đánh giá tác động môi trường mà chưa đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) như quy định của pháp luật. Việc đánh giá tác động môi trường của đa số các dự án thủy điện, thủy lợi chưa tốt, chưa đánh giá hết được tác động môi trường mà dự án gây ra, chưa quan tâm đánh giá đầy đủ, đúng mức ảnh hưởng tới các tài nguyên và môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Đáng chú ý là các tác động đến nguồn nước cả về số lượng, chất lượng, chế độ dòng chảy, đến các nhu cầu khai thác, sử dụng nước khác, nhu cầu nước cần thiết để đẩy mặn trong mùa kiệt, bảo đảm duy trì đời sống bình thường của dòng sông ở hạ du.

Các chuyên gia môi trường nhận định, hiện tại, hoàn toàn thiếu việc đánh giá tác động tổng hợp của hệ thống bậc thang các hồ chứa trên lưu vực sông hoặc một địa phương nên không thấy rõ được những tác động rất bất lợi của toàn bộ các công trình trên lưu vực, do đó thiếu những biện pháp giảm thiểu tác động hoặc biện pháp hạn chế cần thiết.

Các chủ đầu tư, chủ công trình thực hiện chưa nghiêm chỉnh các cam kết về bảo vệ môi trường, nhiều cam kết trong ĐTM không được chủ đầu tư thực hiện một cách triệt để như: Không thu dọn lòng hồ như quy định, không bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu, vận hành không theo quy trình hoặc chỉ vì lợi ích của tổ chức, cá nhân nên gây gia tăng lũ ở hạ du, suy kiệt nguồn nước ở hạ du... Việc giám sát thực hiện các cam kết trong ĐTM hoặc ĐMC thiếu thường xuyên và không chặt chẽ từ các cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương.

Quy hoạch vỡ vụn môi trường sinh thái

Quy hoạch phát triển thủy điện đang "chặt nát" các dòng sông tự nhiên, thành từng khúc nhỏ với những điều kiện dòng chảy, nguồn nước rất khác biệt so với tự nhiên theo hướng ngày càng xấu.

Việc xây dựng công trình đều ở vùng núi cao đầu nguồn nên thường làm mất đất là kèm theo mất rừng ngay trong lòng hồ, đồng thời còn mất đất - rừng cho xây dựng các hạng mục công trình khác, như xây dựng nhà điều hành, các công trình đập, tràn, nhà máy, nhất là đường giao thông lên công trình vào nhà máy, đường tải điện,... đều kéo theo mất rừng đầu nguồn, mất đất, di dân tái định cư và phát sinh nhiều vấn đề... Theo ước tính diện tích đất, rừng bị mất do xây dựng công trình thủy điện ở nước ta năm 2010 là 275.697 ha, dự báo năm 2015 là 536.598 ha; 2020 là 651.996 ha

Các chuyên gia nhận định, trong điều kiện ở miền Trung, nhất là ở khu vực Bắc và Trung Trung Bộ - nơi vùng núi cao áp sát thường cách dưới 30 - 50km, các đồng bằng nhỏ hẹp đông dân cư, tập trung các thị xã, thành phố nên sẽ rất nguy hiểm nếu tiếp tục xây dựng những hồ chứa trên núi cao 500 - 800 mét, như đã và đang xây dựng các hồ chứa Hương Sơn, Vũ Quang, Hố Hô và nhiều hồ chứa ở Thừa Thiên - Huế... Một khi xảy ra sự cố vận hành hoặc sự cố vỡ đập sẽ dẫn đến thảm họa cho hạ du.

Bất cập trong quản lý vận hành hồ chứa

Nhiều ý kiến của các chuyên gia về tài nguyên nước, thủy lợi, thủy điện, liên quan đến phòng chống thiên tai, khai thác, sử dụng nguồn nước về nội dung, giải pháp kỹ thuật trong vận hành các hồ chứa thủy điện cũng như các ý kiến thẩm định các quy trình vận hành công trình hầu như các chủ công trình và nhất là các cơ quan quản lý cấp trên liên quan không hoặc rất ít khi tiếp thu, sửa chữa. Nhiều ý kiến của Bộ TN&MT liên quan đến bổ sung các nhiệm vụ vận hành công trình như : Chế độ vận hành phòng, chống lũ, điều tiết nước bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu ở dưới hạ du... chưa được xem xét đúng mức trong quá trình hoàn chỉnh, thẩm định phê duyệt quy trình vận hành.

Chính vì vậy, đa số các quy trình vận hành các hồ chứa vừa và lớn trên cả nước, nhất là các công trình hồ chứa ở miền Trung, trong nội dung quy trình tuy đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (UBND cấp tỉnh hoặc Bộ Công Thương), nhưng hoàn toàn thiếu hoặc quy định không hợp lý về vận hành công trình, vận hành liên công trình hồ chứa để điều tiết cắt giảm lũ cũng như bảo đảm nguồn nước tối thiểu cần thiết đáp ứng các yêu cầu dùng nước ở hạ du.

Nhiều công trình chưa thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của quy trình vận hành nên đã gây những hậu quả xấu cho hạ du và bản thân công trình. Trong xây dựng cũng như quản lý vận hành công trình, các chủ đầu tư hoặc chủ công trình đều không thực hiện việc thu thập thông tin khí tượng thủy văn cần thiết nên thường vận hành không hợp lý, có trường hợp gây lũ về sớm, lên quá nhanh, làm gia tăng mức độ ngập lụt như trong lũ lụt.

Cụ thể, năm 2009, đã xảy ra lũ lụt ở hạ lưu sông Hương - Bồ do sự cố vận hành cửa van công trình thủy điện Bình Điền; sông Vu Gia - Thu Bồn do xả nước từ công trình A Vương, sông Ba do vận hành xả lũ của công trình sông Ba Hạ.

Mới đây nhất, trong trận lũ lụt lịch sử ở Hà Tĩnh, Quảng Bình do sự cố công trình thủy điện Hố Hô, Kẻ Gỗ gây thiệt hại lớn về người và của. Việc xây dựng công trình không bảo đảm phương án chống lũ cần thiết hoặc công trình không an toàn dẫn đến vỡ đập gây hậu quả nghiêm trọng cho hạ du như trường hợp vỡ đập Cửa Đạt năm 2007 khi đang thi công, vỡ đập Khe Mơ ngày16/10/2010 khi đang sửa chữa; vỡ đập Z20, vỡ đập Thầu Dầu năm 2008... Đây là những bài học và là những lời cảnh báo!








(Theo Phạm Xuân-tainguyenmoitruong.com.vn)

Cấp bách khắc phục thiếu nước sản xuất, sinh hoạt

Cần có biện pháp quản lý phân phối nuớc hợp lý đảm bảo cho sản xuất nông nghiệpMực nước thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình hiện đang thấp hơn hàng chục mét so với bình thường. Trước tình hình này, Thủ tướng đã ra Chỉ thị yêu cầu cấp bách khắc phục tình trạng thiếu nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong những tháng cuối năm 2010, đầu năm 2011.

 

Hiện các sông thuộc khu vực Bắc bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã qua mùa mưa và không có lũ. Mực nước trong các hồ chứa lớn thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình thấp hơn hàng chục mét so với cùng thời kỳ của các năm bình thường.

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương dự báo, những tháng cuối năm 2010, đầu năm 2011, lượng mưa ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm. Tình hình khô hạn trên diện rộng, thiếu điện, thiếu nước phục vụ canh tác nông nghiệp và sinh hoạt rất nghiêm trọng.

Các địa phương luân phiên lấy nước phục vụ canh tác

Chỉ thị nêu rõ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) chỉ đạo, bố trí chi tiết lịch lấy nước phục vụ đổ ải làm đất canh tác vụ Đông-Xuân theo kế hoạch xả nước tăng cường từ các nhà máy thủy điện, điều hành việc lấy nước luân phiên để các địa phương đều được cấp nước, dùng nước tiết kiệm. Đồng thời, Bộ chỉ đạo các địa phương có kế hoạch điều chỉnh mùa vụ sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với khả năng cung cấp nguồn nước.

Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam tính toán lượng nước đang trữ trong các hồ thuỷ điện lớn, thực hiện phát điện xả nước tăng cường theo lịch chi tiết đã thống nhất với Bộ NNPTNT và các địa phương.

Để các địa phương chủ động triển khai lấy nước, các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương phải đưa tin kịp thời về thời gian xả nước tập trung từ các hồ thuỷ điện, diễn biến mực nước trên các sông.

Tích nước đảm bảo sản xuất, sinh hoạt

Bộ NNPTNT chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình thuỷ lợi để đưa vào khai thác sử dụng. Các hồ chứa đang xây dựng nếu đủ điều kiện an toàn cũng thực hiện tích nước phục vụ công tác chống hạn.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường các biện pháp trữ nước, khi có nguồn, lấy nước dự trữ vào các ao, đầm và kênh trục lớn, thực hiện sử dụng nước hợp lý; chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện kịp thời lấy nước, tận dụng tối đa nguồn nước điều tiết từ các nhà máy thuỷ điện để phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Đồng thời cần phải quản lý chặt chẽ nguồn nước hiện có trên địa bàn, chống rò rỉ, thất thoát nước từ các hồ chứa, các công trình thuỷ lợi, quản lý phân phối nước hợp lý, ưu tiên cho sản xuất vụ Đông - Xuân, cấp nước cho sinh hoạt và chăn nuôi.

Chi tiết Chỉ thị xem tại đây:

Thủ tướng chỉ đạo, trước mắt, Bộ trưởng Bộ NNPTNT quyết định thành lập Tổ điều hành công tác phòng, chống hạn phục vụ canh tác vụ Đông - Xuân 2010-2011 do một Thứ trưởng làm Tổ trưởng.

Tổ có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương trong việc phòng, chống hạn, đảm bảo sản xuất, đình kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.


Về lâu dài, cần thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống hạn và xâm nhập mặn quốc gia.


(Theo baodientu.chinhphu.vn)

Lâm Đồng: Xả nước bẩn, một doanh nghiệp bị phạt 400 triệu đồng

Ngày 2.12, tin từ UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, tỉnh vừa ra quyết định xử phạt hành chính đối với công ty Sản xuất lụa tơ tằm Bảo Lộc (Vikotex) với tổng số tiền trên 400 triệu đồng. Lý do phạt được đưa ra là do công ty này trong nhiều năm liền đã lén lút xả thải nước thải chưa qua xử lý trực tiếp ra môi trường.

Trong đó, phạt về hành vi Vikotex không lập đề án bảo vệ môi trường với số tiền là 250 triệu đồng; phạt trên 147 triệu đồng đối với hành vi xả nước bẩn ra môi trường có độ màu vượt quá tiêu chuẩn cho phép trên 10 lần và nước thải có chứa chất nguy hại với thải lượng từ 10 – 50m3/ngày đêm vào nguồn loại B; hành vi gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường nhưng không thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Số tiền còn lại phạt về hành vi không có văn bản quản lý chất thải nguy hại, khai thác tài nguyên nước không có giấy phép, không nạp phí, lệ phí môi trường. Đồng thời, công ty Vikotex còn bị truy thu phí môi trường từ năm 2004 đến nay với số tiền trên 25 triệu đồng.
Ngoài ra, UBND tỉnh Lâm Đồng buộc công ty Vikotex chấm dứt ngay việc xả thải nước bẩn trực tiếp ra môi trường; phải tháo dỡ ngay hệ thống đường ống dẫn nước thải chưa qua xử lý từ máy bơm đổ trực tiếp ra nhánh suối Tân Hà; không được tiếp tục chứa nước thải sản xuất chưa qua xử lý vào bể chứa tự thấm. Đồng thời tiến hành sửa chữa nâng cấp hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn qui định cũng như các thủ tục pháp lý cần thiết theo đúng luật bảo vệ môi trường.
(Theo Sài gòn tiếp thị online)

Những con sông thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai ô nhiễm nặng

Các con sông thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai như Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sài Gòn, sông Bé, Đồng Nai, La Ngà... - nơi sinh sống của cả chục triệu người - đang bị ô nhiễm nặng nề.
“Sức ép ô nhiễm lên môi trường nước lưu vực sông Đồng Nai ngày càng lớn do các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội”. Đó là ý kiến của ông Nguyễn Văn Thùy, phó giám đốc Trung tâm Quan trắc môi trường (Tổng cục Môi trường, Bộ TN-MT), tại hội thảo “Bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai”, tổ chức ở Bình Dương ngày 30-11.
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai gồm các sông chính như: sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Sài Gòn, sông Bé, sông Đồng Nai, sông La Ngà... Tính đến nay, 12 tỉnh thành thuộc lưu vực sông Đồng Nai có 103 khu công nghiệp, khu chế xuất, đó là chưa kể các khu, cụm công nghiệp với diện tích gần 34.000ha.
 
Sức ép
Hiện chỉ số N-NH4 (lượng amoniac) trong nguồn nước ở tất cả cửa sông thuộc lưu vực sông Đồng Nai đều vượt chỉ tiêu quốc gia (QCVN) về chất lượng nước loại A1, trong đó chỉ số COD nhiều nơi có xu hướng tăng mạnh ở các khu vực như phà Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp, sông Soài Rạp... Các dòng sông còn oằn mình gánh những nhà máy thủy điện, gây ảnh hưởng lớn đến vùng hạ lưu, lưu vực sông Đồng Nai.
Theo Trung tâm Công nghệ môi trường (ENTEC), lưu lượng nước thải công nghiệp tống ra lưu vực sông Đồng Nai là gần 2 triệu m3/ngày đêm. Đó là chưa kể hơn 2,7 triệu m3 nước thải sinh hoạt đổ ra, trong đó nước thải của hàng loạt khu đô thị không hề được xử lý, xả thẳng ra sông suối.
Điều này cho thấy tổng lượng nước thải ô nhiễm xả thẳng ra các dòng sông thuộc lưu vực sông Đồng Nai đang ở mức báo động. Báo cáo hiện trạng môi trường của tỉnh Bình Dương cho thấy chỉ có 20% cơ sở sản xuất nằm ngoài khu, cụm công nghiệp đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn. Ngoài ra còn có trên 38% khu công nghiệp xả nước thải trực tiếp ra các dòng sông vượt quy chuẩn cho phép.

tt9

Nước sông Cái, một nhánh của sông Đồng Nai, bị ô nhiễm khiến cá nuôi chết hàng loạt (ảnh nhỏ - chụp ngày 25-6-2010)

Ông Nguyễn Văn Thùy phân tích: “Theo điều tra của ENTEC, trên 350 cơ sở xả nước thải trực tiếp ra sông Đồng Nai, trong 34 doanh nghiệp nằm ngoài khu, cụm công nghiệp thì có 16 doanh nghiệp chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải, gây nên ô nhiễm rất lớn”.
Theo đánh giá của cơ quan chức năng, ngoài nguồn nước thải công nghiệp, điều mà các nhà chuyên môn, nhà khoa học lo ngại là nguồn nước rác thải y tế. Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Đồng Nai năm 2010 cho thấy có tới 35% lượng nước thải y tế tại các bệnh viện tỉnh, huyện chưa được xử lý đổ thẳng vào môi trường. Số còn lại tuy đã xử lý nhưng chất lượng nước cũng chưa đảm bảo, vì các bệnh viện đã xử lý nước thải sai quy trình. Đó là chưa kể các trạm y tế và phòng khám đa khoa không có hệ thống xử lý nước thải.
Theo Tổng cục Môi trường, năm 2010 kết quả quan trắc cho thấy hiện trạng mặt nước sông Sài Gòn về chất N-NH4 có chỉ số luôn vượt ngưỡng tiêu chuẩn QCVN ở mức B1 nhiều lần; còn chỉ số BOD5 (nhóm chỉ tiêu đánh giá về mức độ ô nhiễm chất hữu cơ của bề mặt nước) nhiều khu vực tăng mạnh... Điều đáng nói là N-NH4 ở tất cả cửa sông đều vượt QCVN loại nước A1 như phà Bình Khánh, đập Tam Thôn Hiệp, sông Soài Rạp...
Những người nuôi cá bè trên sông Cái (một con sông trong hệ thống sông Đồng Nai) luôn khốn khổ bởi cá chết hàng loạt do nước sông bị ô nhiễm - Ảnh: Minh Đức
 
Biến dạng
ThS Lê Văn Hợp, người phát ngôn Bộ TN-MT, cho biết đánh giá việc khai thác cát của các cơ sở kinh doanh vật liệu xây dựng cũng đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn. Khi khai thác cát tràn lan sẽ làm đảo nguồn, tạo dòng chảy, gây xói lở cho bờ sông, ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất kinh doanh cũng như vận tải thủy.
“Tôi khuyến cáo các địa phương phải tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ các cơ sở khai thác, kinh doanh cát sỏi. Tốt nhất là các địa phương phải có quy hoạch từng khu vực được phép khai thác và chỉ được khai thác hạn chế mức độ nào đó thôi” - ThS Lê Văn Hợp nói.
Đánh giá tầm quan trọng của sông Đồng Nai đối với đời sống của hơn 17 triệu dân tại các tỉnh thành trong khu vực, TS Nguyễn Văn Ba, phó vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ - môi trường, nói: “Sông Đồng Nai như là động mạch chủ của các tỉnh miền Đông và các tỉnh thành lân cận. Thế nhưng lưu lượng nước trên dòng sông này ngày càng giảm”.
Tài liệu của Hội Tài nguyên nước Việt Nam cho thấy năm 2005, lưu lượng nước trên sông Đồng Nai chỉ cung cấp được khoảng 2.486m3 nước/người/năm (theo tiêu chuẩn quốc tế, nếu một người dân chỉ được sử dụng dưới 4.000m3/người/năm là đã thiếu nước sạch trầm trọng), năm 2010 giảm xuống còn trên 2.000m3/người/năm và tới năm 2020 chỉ còn khoảng 1.770m3/người/năm. Tình hình thiếu nước, dù là nước đang bị ô nhiễm, đang ngày càng gay gắt.
 
Đừng để quá muộn
TS Nguyễn Văn Ba cho rằng lần đầu tiên nhóm chỉ tiêu về môi trường đã được Chính phủ xây dựng đưa vào các chỉ tiêu định hướng phát triển kinh tế - xã hội năm năm (2006-2010) và dành 1% tổng chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp môi trường. Thế nhưng việc đầu tư kinh phí, nguồn lực cho truyền thông bảo vệ môi trường vẫn chưa tương xứng với yêu cầu và nhiệm vụ đề ra.
Từ thực trạng này, KS Nguyễn Văn Phấn - trưởng phòng truyền thông môi trường Tổng cục Môi trường - cho rằng để bảo vệ tốt môi trường lưu vực các sông, nhất là sông Đồng Nai, các khu công nghiệp, doanh nghiệp, bệnh viện cần nâng cao công nghệ xử lý nước thải.
Ông Nguyễn Văn Thùy nhấn mạnh: “Để bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai cần mạnh tay xử lý triệt để nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, khu đô thị, nhất là nước thải từ các khu công nghiệp, doanh nghiệp. Đồng thời kiểm soát chặt chẽ môi trường trong quá trình khai thác khoáng sản và khai thác cát, sỏi.
Bên cạnh đó, cần sử dụng hợp lý phân bón, hóa chất trong chăn nuôi gia súc, gia cầm và phải phát triển diện tích rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển và cây xanh đô thị, xây dựng các công trình thu gom và xử lý nước thải tại các khu đô thị, khu công nghiệp”.
KS Nguyễn Văn Phấn nói: “Vấn đề quan tâm của lưu vực sông Đồng Nai hiện nay là các chủ doanh nghiệp còn ý thức kém trong việc xử lý nguồn nước thải. Trong hội nghị này chúng tôi mời rất nhiều doanh nghiệp đang hoạt động trên lưu vực sông Đồng Nai và Sài Gòn đến dự nhưng theo tôi được biết chỉ có sáu doanh nghiệp quan tâm, tham gia hội nghị”.


(Theo TTO)