Tue11302021

Last update02:00:00 PM GMT

Hỏi - Đáp

Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa nước sông và nước dưới đất, đề xuất hệ phương pháp xác định trữ lượng khai thác nước dưới đất vùng ven sông Hồng từ thị xã Sơn Tây đến Hưng Yên”?

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nước sông Hồng và nước dưới đất trong trầm tích đệ tứ. Các cấu trúc địa chất - địa chất thủy văn đới ven sông Hồng từ thị xã Sơn Tây đến Hưng Yên, cụ thể:

- Nghiên cứu kết quả đo mặt cắt sông Hồng để xác định cấu trúc, hình thái Sông Hồng và mối quan hệ với cấu trúc địa chất;

- Tính thấm của đất đá khu vực ven sông để xác định khả năng cung cấp thấm của nước sông cho nước dưới đất;

- Các mặt cắt địa chất, địa chất thủy văn khu vực ven sông Hồng; trường địa vật lý của đất đá đệ tứ khu vực ven sông Hồng.

- Chất lượng nước, các chất đồng vị sông Hồng và nước dưới đất; mực nước sông và nước dưới đất khu vực ven sông Hồng.

Địa điểm nghiên cứu của đề tài là khu vực ven sông Hồng từ thị xã Sơn Tây đến Hưng Yên.

Nội dung nghiên cứu chính bao gồm những nội dung sau:

- Nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về mối quan hệ giữa nước sông và nước dưới đất trong trầm tích đệ tứ, các phương pháp để đánh giá, quy hoạch khai thác sử dụng hiệu quả TNNDĐ trong đới thấm lọc ven sông;

- Khảo sát, đo đạc, khoan nghiên cứu địa chất thủy văn, địa vật lý, thí nghiệm thấm và quan trắc động thái mực nước;

- Nghiên cứu xác định các đới, mặt cắt điển hình về các kiểu quan hệ thủy lực giữa nước sông Hồng với nước dưới đất trong trầm tích đệ tứ đoạn từ thị xã Sơn Tây đến Hưng Yên;

- Xây dựng sơ đồ, phương pháp và mô hình phù hợp để xác định trữ lượng khai thác nước dưới đất nước dưới đất trong trầm tích đệ tứ đoạn từ thị xã Sơn Tây đến Hưng Yên;

- Xác định các khu vực thuận lợi và đề xuất mô hình khai thác hiệu quả, bền vững nước dưới đất trong trầm tích đệ tứ vùng ven sông Hồng phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng Thủ đô.

Cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng dự báo tài nguyên nước dưới đất?

Việc đánh giá chất lượng bản tin dự báo diễn biến tài nguyên nước dưới đất là một trong các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá công việc của Trung tâm Cảnh báo và Dự báo tài nguyên nước thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, đồng thời, thông qua chất lượng dự báo tài nguyên nước dưới đất, có thể định hướng được công tác nghiên cứu và nâng cao chất lượng bản tin dự báo một khi biết được chi tiết chỗ mạnh yếu của các sản phẩm này. Tuy nhiên, vấn đề đánh giá chất lượng bản tin dự báo diễn biến tài nguyên nước dưới đất là một vấn đề hết sức phức tạp vì trên thực tế, không có một phương pháp hay quy phạm đánh giá nào bao quát được mọi mục đích của việc đánh giá chất lượng bản tin dự báo. Nhiều chuyên gia tài nguyên nước cho rằng việc đánh giá chất lượng bản tin dự báo cũng khó khăn phức tạp chẳng kém gì việc làm ra các bản tin dự báo. Sự khó khăn này thể hiện ở các điểm chính sau:

- Sự phức tạp của diễn biến tài nguyên nước, các yếu tố tài nguyên nước và thông báo, dự báo liên quan đến không gian, thời gian và cường độ của chúng;

- Tính chất của thông báo, cảnh báo, dự báo (bản tin tháng, bản tin quý, bản tin năm,…);

- Các phương pháp và chỉ tiêu đánh giá không phải là duy nhất;

- Các quy ước về giới hạn cường độ, không gian và thời gian chưa thống nhất;

- Quá trình phát triển kinh tế xã hội và khoa học công nghệ làm cho công tác quan trắc và dự báo nghiệp vụ tài nguyên nước thay đổi, yêu cầu của xã hội, của người dùng cũng thay đổi. Sự thay đổi đó lại kéo theo những thay đổi về thuật ngữ, về những quy ước theo không gian, thời gian, về tính chất bản tin…

Theo các chuyên gia về tài nguyên nước, có 3 lý do quan trọng nhất cần phải đánh giá chất lượng bản tin dự báo tài nguyên nước dưới đất là:

1. Để theo dõi chất lượng dự báo: xem các số liệu quan trắc và các bản tin dự báo chính xác đến mức nào và mức chính xác có ngày càng tốt hơn không?

2. Để nâng cao chất lượng dự báo tài nguyên nước dưới đất: vì trước hết phải tìm ra dự báo sai cái gì, sai như thế nào thì mới có thể cải tiến công nghệ dự báo.

3. Để so sánh chất lượng dự báo của các hệ thống dự báo khác nhau.

Giải pháp quản lý hiệu quả, bền vững tài nguyên nước dưới đất đới ven sông Hồng?

Khai thác bền vững NDĐ được hiểu là khai thác nguồn NDĐ đảm bảo bền vững lâu dài cả về số lượng và chất lượng, đồng thời đảm bảo không sảy ra sự khánh kiệt tài nguyên, duy trì sự phát triển bình thường của các hệ sinh thái thiết yếu, đảm bảo giảm thiểu tối đa các tác động môi trường. Để đạt được mục tiêu trên đây cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc sau.

- Do quy mô khai thác NDĐ ngày càng tăng, cần phải tiến hành nghiên cứu quy hoạch khai thác NDĐ vùng thủ đô, cho cả vùng nông thôn lẫn thành thị với các mục đích khác nhau trên quan điểm khai thác hợp lý, bền vững tài nguyên NDĐ.

- Tất cả các loại hình khai thác NDĐ chỉ được thực hiện khi có kết quả thăm dò đánh giá trữ lượng được các cơ quan có thẩm quyền duyệt và cho phép.

- NDĐ do có chất lượng tốt cần được khai thác ưu tiên phục vụ cho ăn uống sinh hoạt, sản xuất công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, sản xuất công nghiệp công nghệ cao.

- Công tác khai thác NDĐ có thể thực hiện theo phương châm đa dạng các loại hình khai thác, xã hội hoá công tác cung cấp nước. Tuy nhiên, việc khai thác tập trung với công suất lớn phải được giao cho các công ty nhà nước hoặc các cơ quan có chức năng đảm nhiệm. Các công trình khai thác nước lớn cần được ưu tiên cho xây dựng ở các vùng có trữ lượng lớn đặc biệt là những khu vực ven sông Hồng rất thuận lợi đến tương đối thuận lợi đã được định hướng khai thác. Còn loại hình khai thác tập trung công suất nhỏ, khai thác đơn lẻ, khai thác cung cấp nước nông thôn, công suất nhỏ, mức đầu tư thấp thì có thể sử dụng các nguồn nước gần hoặc nguồn nước tại chỗ.

- Việc khai thác nước dưới đất cần được tính đến phương án đảm bảo giảm thiểu các tác động gây ô nhiễm nguồn nước do nước thấm đến từ các nguồn có chất lượng không đảm bảo, gây tác động tiêu cực đến môi trường chứa nước cũng như sự phát triển hệ sinh thái có liên quan.

Ứng dụng và ý nghĩa thực tiễn của đề tài “Nghiên cứu thiết lập hệ thống trực tuyến cung cấp Metadata các dự án phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước ” trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước

Câu hỏi:

Ứng dụng và ý nghĩa thực tiễn của đề tài “Nghiên cứu thiết lập hệ thống trực tuyến cung cấp Metadata các dự án phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước ” trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước

Trả lời:

Metadata đã được đề cập, bắt đầu nghiên cứu từ năm 1968 bởi Philip Bagley, trong cuốn sách của ông “Extension of programming language concepts” (Mở rộng các khái niệm ngôn ngữ lập trình) và ngày càng được ứng dụng rộng rãi. Trên thế giới đã có nhiều tiêu chuẩn quốc tế, lược đồ, giao thức hướng trực tiếp hoặc có liên quan nhằm chuẩn hóa Metadata ví dụ như ISO19115/ISO19119/ISO19110 (International Standard 2003), Dublin Core, METS... Những tiêu chuẩn, lược đồ này không nằm ngoài mục tiêu thống nhất và ứng dụng Metadata vào các hệ thống thư viện – danh bạ dữ liệu.

Quản lý và khai thác hiệu quả thông tin cơ bản các dự án, nhiệm vụ, đề tài lĩnh vực tài nguyên nước có ý nghĩa tích cực về nhiều mặt. Trong công tác lập kế hoạch, giao nhiệm vụ hàng năm cần thiết quản lý giảm thiểu tình trạng chồng lấn các nhiệm vụ, nội dung, các vùng và phạm vi nghiên cứu… hay rà soát tránh sai sót, trùng lặp nhiệm vụ; Trong công tác triển khai thực hiện các dự án, đề tài việc tìm kiếm từ đó kế thừa lại các kết quả nghiên cứu trước nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao khả năng chia sẻ thông tin; Trong công tác cấp phép khai thác tài nguyên nước là việc tìm kiếm thông tin về đề tài, dự án nghiên cứu trước đây tại khu vực xin phép đều là các vấn đề cần phải được nghiên cứu giải quyết.

Có được hệ thống thông tin trực tuyến cung cấp metadata các dự án tài nguyên nước sẽ giúp giải quyết các vấn đề trên. Ngoài ra, hệ thống thông tin này cũng giúp tổ chức, lưu trữ tài liệu kết quả dự án thêm chặt chẽ, khoa học và hỗ trợ truyền tải thông tin đến người sử dụng hoặc các đối tượng khách hàng có nhu cầu khai thác thông tin – phục vụ thiết thực định hướng kinh tế hóa ngành tài nguyên môi trường lĩnh vực tư liệu, thông tin tài nguyên nước. Thêm nữa, ứng dụng mềm dẻo các chuẩn Metadata đã có sẽ giúp việc chuyển đổi, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống quản lý dữ liệu, thư viện số thông suốt và nhất quán.

Tại sao chúng ta nên ứng dụng Metadata trong việc phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước

Metadata sau khi đã được tạo lập do có cấu trúc thống nhất và tuân thủ các chuẩn nên hoàn toàn có thể truy xuất các thuộc tính như một chỉ mục thư viện. Việc truy vấn Metadata do chức năng phía người dùng đảm nhiệm. Kết quả trả về thông thường dưới dạng trực quan có diễn giải tương ứng được thành lập trên cơ sở cấu trúc chuẩn.

Rất nhiều các phần mềm thương mại hỗ trợ việc tạo lập và quản lý Metadata với các chức năng đã nêu ở trên và đa phần các phần mềm này đều nhắm đến việc xây dựng thư viện dữ liệu số. Bên cạnh đó, những nền tảng phần mềm mở sử dụng Internet như môi trường hỗ trợ quản lý khai thác Metadata cũng hết sức đầy đủ như Greenstone (Greenstone Digital Library Software n.d.), Geonetwork (Geonetwork Opensource n.d.).

Một số ví dụ dẫn ra đây để thấy việc ứng dụng Metadata đã được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam. Các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước về Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường ở nhiều quốc đã thiết lập hệ thống thông tin trực tuyến phục vụ việc quản lý, quảng bá, chia sẻ và cả thương mại hóa kết quả của các đề tài, chương trình, dự án trên cơ sở Metadata – Danh bạ dữ liệu (USGS - Mỹ, GeoDAK - Đức…). Dù còn nhiều hạn chế xong ở Việt Nam, những cố gắng trong việc Việt hóa, sửa đổi các nền tảng này vào công tác thư viện số cũng đáng được ghi nhận như: ứng dụng Greenstone tại thư viện đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đại học Quốc gia Hà Nội, trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên… ứng dụng GeoNetwork trong: xây dựng Cổng thông tin địa lý Thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng hệ thống thông tin MRC trong chương trình chia sẻ thông tin, kiến thức - ủy ban sông Mê Công Việt Nam - Ủy hội sông Mê Công quốc tế…

Qua đây có thể thấy, về mặt kỹ thuật nếu xem dự án, đề tài, nhiệm vụ lĩnh vực tài nguyên nước là đối tượng dữ liệu thì hoàn toàn có thể áp dụng trực tiếp hoặc có sửa đổi cho phù hợp các chuẩn, giao thức Metadata đã có trong quản lý và khai thác thông tin cơ bản. Về mặt ứng dụng công nghệ, những công cụ nêu trên có đầy đủ tính năng và được ứng dụng hết sức rộng rãi trên thế giới, việc tham khảo hoặc cải tiến chức năng để phù hợp với yêu cầu thực tế là hoàn toàn khả thi.

Metadata là gì?

Metadata đã được đề cập, bắt đầu nghiên cứu từ năm 1968 bởi Philip Bagley, trong cuốn sách của ông “Extension of programming language concepts” (Mở rộng các khái niệm ngôn ngữ lập trình) và ngày càng được ứng dụng rộng rãi. Trên thế giới đã có nhiều tiêu chuẩn quốc tế, lược đồ, giao thức hướng trực tiếp hoặc có liên quan nhằm chuẩn hóa Metadata ví dụ như ISO19115/ISO19119/ISO19110 (International Standard 2003), Dublin Core, METS... Những tiêu chuẩn, lược đồ này không nằm ngoài mục tiêu thống nhất và ứng dụng Metadata vào các hệ thống thư viện – danh bạ dữ liệu.

Trên cơ sở các tiêu chuẩn đã thiết lập ở trên, các công cụ tạo lập Metadata thường bao gồm các nhóm chức năng sau (Brand 2003, p. 6):

Hỗ trợ khuôn mẫu Metadata: Cho phép người dùng nhập các giá trị Metadata vào một tập các trường được thiết lập sẵn. Chức năng này sau đó sẽ định dạng và tạo lập các đối tượng thuộc tính và giá trị tương ứng của chúng theo chuẩn.

Các công cụ đánh dấu (Mark-up tools): Hỗ trợ cấu trúc hóa các thuộc tính và giá trị của chúng theo một ngôn ngữ cấu trúc được xác định. Đa phần các công cụ này tạo các tài liệu XML hoặc SGML

Các công cụ trích xuất Metadata: Hỗ trợ tự động tạo các Metadata từ việc phân tích dữ liệu số. Tuy vậy, khả năng tự động tạo lập thông tin cũng như chất lượng Metadata được tạo ra phụ thuộc rất nhiều vào mức độ số hóa, thuật toán phân tích cũng như nội dung và cấu trúc nguồn dữ liệu số. Đa phần Metadata được tạo thành phải được kiểm tra lại thủ công trước khi đưa vào hệ thống hoặc sử dụng.