Sat10232021

Last update12:17:51 AM GMT

Hỏi - Đáp

Nêu các nội dung phải xây dựng cho công tác thông báo, cảnh báo, dự báo tài nguyên nước?

There are no translations available.

Trả lời:

Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển dân số cùng với việc gia tăng các nhu cầu sử dụng nước phục vụ các hoạt động dân sinh kinh tế, khan hiếm, ô nhiễm tài nguyên nước cùng với biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho vấn đề tài nguyên nước trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, chi phối toàn bộ đời sống, kinh tế, xã hội của người dân. Vấn đề dự báo, cảnh báo về những diễn biến tài nguyên nước trong tương lai đã trở thành vấn đề vô cùng quan trọng trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước, phát triển ổn định kinh tế-xã hội. Vì vậy, năm 2018, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã triển khai thực hiện đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất bổ sung, hoàn thiện quy định về dự báo, cảnh báo tài nguyên nước" do ThS. Lê Thị Mai Vân chủ nhiệm, với dự kiến đạt được là hoàn thiện hành lang cơ sở pháp lý và các quy định kỹ thuật rõ ràng... đối với từng loại hình dự báo cảnh báo để triển khai công tác cảnh báo dự báo tài nguyên nước.

Các nội dung phải xây dựng, nghiên cứu cho công tác thông báo, cảnh báo, dự báo tài nguyên nước bao gồm:

+ Đối với công tác thông báo tài nguyên nước, cần phải xây dựng được các loại bản tin thông báo tài nguyên nước dưới đất trên các tầng chứa nước và trên các lưu vực sông (LVS) liên tỉnh theo Quyết định Số: 1989/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 01 tháng 11 năm 2010 về việc ban hành danh mục lưu vực sông liên tỉnh, bao gồm: LVS Kỳ Cùng – Bằng Giang, Lưu vực Sông Hồng - Thái Bình, LVS Mã, LVS Cả, LVS Vũ Gia- Thu Bồn, LVS Ba, Lưu vực Đồng Nai, LVS Mê Công (Cửu Long) với các thời đoạn tháng, mùa, năm và bản tin đột xuất (khi xảy ra các hiện tượng bất thường). Đối với các bản tin thông báo tài nguyên nước mặt, cần phải đưa ra thông tin thông báo tại các trạm quan trắc tài nguyên nước, thông báo tài nguyên nước theo nguồn nước, theo lưu vực sông. Cần phải nâng cao công nghệ tin học hiện đại, quy trình, công nghệ hiện đại để đưa ra các bản tin thông báo tài nguyên nước. Để đảm bảo phát triển hiệu quả được công tác này, cần phải đưa ra quy định kỹ thuật xây dựng bản tin thông báo tài nguyên nước dưới đất và nước mặt trong ngay giai đoạn sắp tới (đến năm 2020).

+ Đối với công tác cảnh báo tài nguyên nước, từ phân tích hiện trạng, tồn tại khó khăn và định hướng phát triển, thấy rằng cần phải xây dựng được các loại bản tin cảnh báo tài nguyên nước dưới đất lưu vực sông trên các tầng chứa nước và đưa ra thông báo tài nguyên nước trên các lưu vực sông liên tỉnh với các thời đoạn tháng, mùa, năm. Cần phải nâng cao công nghệ, quy trình hiện đại để đưa ra các bản tin cảnh báo tài nguyên nước. Để đảm bảo phát triển hiệu quả được công tác này, cần phải xây dựng quy định kỹ thuật xây dựng bản tin cảnh báo tài nguyên nước dưới đất và nước mặt trong giai đoạn sắp tới (đến năm 2020).

+ Đối với công tác dự báo tài nguyên nước dưới đất và tài nguyên nước mặt, cần phải xây dựng được bản tin dự báo tài nguyên nước dưới đất và nước mặt trên các lưu vực sông chính với các thời đoạn tháng, mùa, năm, 5 năm, 10 năm. Các bản tin dự báo tài nguyên nước mặt cần phải dự báo về số lượng, chất lượng, khả năng khai thác sử dụng tại các vị trí quan trắc, phân bổ, chuyển nước, giám sát, các vị trí khai thác sử dụng chính, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm... của các lưu vực sông chỉnh ở Việt Nam.Với các bản tin tháng và mùa, cần đưa ra dự báo theo các vị trí dự báo là các điểm quan trắc, phân bô, chuyển nước, giám sát, vị trí khai thác sử dụng chính, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm, các hồ chính... Riêng đối với các bản tin năm, 5 năm, 10 năm cần phải dự báo thêm được tổng lượng nước trên toàn lưu vực.

Nêu phương pháp tính toán trữ lượng nước dưới đất của Dự án “ Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước”?

There are no translations available.

Trả lời:

Một số phương pháp tính toán trữ lượng nước dưới đất của dự án tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước:

Trữ lượng có thể khai thác

Trữ lượng có thể khai thác là lượng nước có thể nhận được từ tầng chứa nước ổn định trong thời gian dài mà không gây tác động xấu đến môi trường, nghĩa là không gây sụt lún đất, xâm nhập mặn hoặc ô nhiễm nguồn nước. Trên các vùng điều tra của Dự án, căn cứ vào đặc điểm địa chất thủy văn, điều kiện của từng khu vực mà trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 - 50% tiềm năng nước dưới đất, theo đó:

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 đến 50% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở các kết quả điều tra, đánh giá của vùng cũng như tham khảo các đánh giá từ Đề án "Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ";

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trữ lượng có thể khai thác hầu hết được lấy bằng 30% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở kết quả điều tra đánh giá cụ thể từng vùng (hầu hết các tầng chứa nước là tầng chứa nước khe nứt, tính bất đồng nhất cao), đồng thời tham khảo các kết quả từ các dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước giai đoạn trước (Báo cáo Điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên (2007); Báo cáo Điều tra nguồn nước dưới đất vùng núi Trung Bộ và Tây Nguyên pha III (2008); Báo cáo Điều tra, đánh giá nước dưới đất các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (2014); Báo cáo Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (2014).

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Bộ được tính toán trên cơ sở Tính theo ngưỡng giới hạn khai thác trên cơ sở mực nước động cho phép theo quy định Nghị định 167/2018/NĐ-CP đối với từng vùng.

Tiềm năng tài nguyên nước dưới đất

Tiềm năng tài nguyên nước dưới đất được xác định theo công thức sau:

Qtn = Qt + Qđ

Trong đó:

Qtn là tiềm năng tài nguyên nước dưới đất, m3/ngày.

Qt là tài nguyên tích chứa (bao gồm tài nguyên tĩnh trọng lực và tài nguyên tĩnh đàn hồi), m3/ngày.

Qđ là lượng bổ cập tự nhiên, m3/ngày

Việc tính toán tài nguyên nước tích chứa và lượng bổ cập (trữ lượng động) được thực hiện như sau:

+ Tính toán tài nguyên tích chứa:

Qt = Qtl + Qdh

Qtl = α.μ.m.F/t

Qdh = α.μ*.ha.F/t

Trong đó:

Qtn: Tiềm năng nước dưới đất, m3/ngày;

Qtl: Tiềm năng tĩnh trọng lực, m3/ngày;

Qdh: Tiềm năng tĩnh đàn hồi, m3/ngày;

α: Hệ số sử dụng trữ lượng (lấy bằng 0,3);

μ: Hệ số nhả nước trọng lực;

μ*: Hệ số nhả nước đàn hồi;

m: Bề dày tầng chứa nước, m;

ha: Chiều cao cột áp trên mái tầng chứa nước, m;

F: Diện tích phân bố của tầng chứa nước, m2;

t: Thời gian hoạt động của công trình qui ước (lấy bằng 10.000 ngày).

+ Lượng bổ cập tự nhiên: Lượng bổ cập tự nhiên cho nước dưới đất có thể được hình thành từ ngấm của nước mưa, từ dòng ngầm nơi khác chảy đến, từ nước sông, nước mặt... Một số phương pháp xác định lượng bổ cập tự nhiên bao gồm: xác định thông qua cường độ cung cấp cho nước dưới đất (phương pháp N.N.Bindeman); phương pháp Darcy; phương pháp thủy văn; phương pháp lượng mưa ngấm...

Đối với các vùng điều tra, trên cơ sở tài liệu quan trắc động thái nước dưới đất áp dụng phương pháp N.N.Bindeman để tính toán lượng bổ cập tự nhiên như sau:

Giá trị cung cấp thấm trung bình năm sẽ được tính toán theo công thức:

Trong đó: μ là hệ số phóng tích nước được lấy bằng hệ số nhả nước trọng lực nếu tầng chứa nước không áp hoặc hệ số nhả nước đàn hồi nếu tầng chứa nước có áp.

Trong trường hợp không có số liệu thí nghiệm tin cậy để xác định hệ số nhả nước đàn hồi có thể sử dụng hệ số nhả nước trọng lực của lớp phủ trên mặt của tầng chứa nước tính toán.

Lúc đó, lượng nước bổ cập cho các tầng chứa nước hay còn được gọi là trữ lượng động sẽ được tính toán theo công thức:

Qđ = F × Wm

Trong đó:

F: là diện tích lộ của tầng chứa nước (km2),

Wm: là giá trị cung cấp thấm trên một đơn vị diện tích (m3/ngày/km2)

Trữ lượng có thể khai thác

Trữ lượng có thể khai thác là lượng nước có thể nhận được từ tầng chứa nước ổn định trong thời gian dài mà không gây tác động xấu đến môi trường, nghĩa là không gây sụt lún đất, xâm nhập mặn hoặc ô nhiễm nguồn nước. Trên các vùng điều tra của Dự án, căn cứ vào đặc điểm địa chất thủy văn, điều kiện của từng khu vực mà trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 - 50% tiềm năng nước dưới đất, theo đó:

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, trữ lượng có thể khai thác được lấy bằng 30 đến 50% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở các kết quả điều tra, đánh giá của vùng cũng như tham khảo các đánh giá từ Đề án "Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ";

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trữ lượng có thể khai thác hầu hết được lấy bằng 30% tiềm năng tài nguyên nước dưới đất trên cơ sở kết quả điều tra đánh giá cụ thể từng vùng (hầu hết các tầng chứa nước là tầng chứa nước khe nứt, tính bất đồng nhất cao), đồng thời tham khảo các kết quả từ các dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước giai đoạn trước (Báo cáo Điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất ở một số vùng trọng điểm thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên (2007); Báo cáo Điều tra nguồn nước dưới đất vùng núi Trung Bộ và Tây Nguyên pha III (2008); Báo cáo Điều tra, đánh giá nước dưới đất các vùng đặc biệt thiếu nước sinh hoạt thuộc các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (2014); Báo cáo Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (2014).

- Các vùng điều tra trên địa bàn khu vực Nam Bộ được tính toán trên cơ sở Tính theo ngưỡng giới hạn khai thác trên cơ sở mực nước động cho phép theo quy định Nghị định 167/2018/NĐ-CP đối với từng vùng.

Lưu lượng khai thác công trình dự báo là lưu lượng được tính toán, dự báo trên cơ sở như sau:

- Kết quả bơm thí nghiệm tại các lỗ khoan thăm dò khai thác;

- Nhu cầu khai thác sử dụng của vùng điều tra có xét đến dự báo nhu cầu đến năm 2030.

Việc tính toán dự báo được áp dụng cho từng vùng cụ thể, theo đó các vùng khai thác nước trong các tầng chứa nước bở rời được tính toán, dự báo theo công thức thủy động lực, các vùng khai thác nước trong các tầng chứa nước khe nứt được xác định thủy lực (Phương pháp N.N.Bindeman, 1970). Kết quả dự báo cho từng lỗ khoan khai thác, đảm bảo hạ thấp trong giới hạn cho phép trê cơ sở Nghị định 167 /2018/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Chính Phủ về quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất. Trường hợp hạ thấp vượt quá hạ thấp cho phép, tiến hành điều chỉnh lưu lượng để xác định các giá trị khai thác an toàn cho từng lỗ khoan. Trữ lượng công trình được tính toán với thời gian khai thác trong 27 năm.

Nêu phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long?

There are no translations available.

Trả lời:

Năm 2018, Đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long” đã được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia triển khai thực hiện. Kết quả dự kiến đạt được của đề tài là xây dựng bộ công cụ (cơ sở dữ liệu, công nghệ quan trắc tự động chuyển giao từ Cộng hòa Liên bang Đức) nhằm nâng cấp, khai thác hiệu quả hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn. Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của hệ thống đó là:

Phương thức chuyển giao

- Hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long (gồm cơ sở dữ liệu, hướng dẫn sử dụng), sẽ được chuyển giao cho Cục Quản lý Tài nguyên nước, các đơn vị của Trung tâm phục vụ cảnh báo, dự báo và xây dựng hoặc điều chỉnh quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên nước.

- Hình thức chuyển giao: cài đặt trên PC và tập huấn sử dụng (kèm theo hướng dẫn sử dụng) cho cán bộ chuyên môn.

Địa chỉ (dự kiến) ứng dụng các kết quả của đề tài

- Cục Quản lý Tài nguyên nước, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia (Bộ Tài nguyên Môi trường).

- Ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài để giám sát tình hình diễn biến nguồn nước, xâm nhập mặn nhằm trợ giúp công tác chỉ đạo kịp thời phòng, chống, ứng phó tổng thể, hoạch định chiến lược quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nước và thực hiện Nghị Quyết 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu

- Đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ có liên quan

+ Nghiên cứu xây dựng được bộ tiêu chí xác định điểm quan trắc phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn tài nguyên nước;

+ Xây dựng bộ công cụ tác nghiệp nhằm khai thác hiệu quả hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn;

- Đối với tổ chức chủ trì và các cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu

+ Đơn vị chủ trì thực hiện dự án là Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia sẽ sử dụng hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long của đề tài để tác nghiệp trong công tác cảnh báo, dự báo tài nguyên nước.

+ Cục Quản lý Tài nguyên nước và các sở tài nguyên và môi trường trong vùng nghiên cứu có thể sử dụng hệ thống giám sát, cảnh báo sớm cạn kiệt xâm nhập mặn để ra được các quyết định kịp thời trong công tác quản lý tài nguyên nước ở cấp Trung ương cũng như địa phương.

- Đối với kinh tế - xã hội và môi trường

Hệ thống giám sát nguồn nước phục vụ cảnh báo sớm cạn kiệt, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long hỗ trợ định hướng khai thác sử dụng bền vững tài nguyên và phục vụ Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long.

Nguyên tắc khoanh định và áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất được quy định như thế nào tại Nghị định 167/2018/NĐ-CP về quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất là gì?

There are no translations available.

Trả lời:

Theo Điều 3 Nghị định 167/2018/NĐ-CP quy định:

1. Việc khoanh định và áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất phải bảo đảm tuân thủ đúng, đầy đủ các tiêu chí khoanh định và các biện pháp hạn chế cụ thể đối với từng vùng, từng khu vực theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 10 của Nghị định này.

2. Nguyên tắc khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất:

a) Bảo đảm phù hợp với quy mô, tính chất của các khu vực gây sụt, lún, ô nhiễm, xâm nhập mặn, cạn kiệt nguồn nước dưới đất, đặc điểm của các tầng chứa nước; tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật có liên quan;

b) Ranh giới vùng hạn chế khai thác nước dưới đất phải thể hiện trên bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất được thành lập trên nền bản đồ hành chính hoặc địa hình có cùng tỷ lệ;

c) Tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chí khoanh định cụ thể đối với từng vùng, từng khu vực hạn chế theo quy định của Nghị định này, các quy định của pháp luật về tài nguyên nước, pháp luật khác có liên quan và phải bảo đảm công khai, minh bạch. Không mở rộng phạm vi khoanh định các khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất vượt quá phạm vi quy định tại Nghị định này;

d) Thông tin, số liệu sử dụng để làm căn cứ khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất phải bảo đảm đầy đủ, rõ ràng, chính xác và trung thực.

3. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất:

a) Bảo đảm yêu cầu bảo vệ nguồn nước dưới đất, đồng thời phải bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan, bao gồm cả việc bồi thường thiệt hại, hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước (nếu có) trong trường hợp bị thu hồi giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng theo quy định của pháp luật;

b) Tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp hạn chế khai thác được áp dụng cụ thể đối với từng vùng, từng khu vực hạn chế và thứ tự thực hiện đối với từng đối tượng, trường hợp theo quy định của Nghị định này. Không áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất khác với các biện pháp quy định tại Nghị định này;

c) Ưu tiên cho việc cấp nước sinh hoạt, cấp nước phục vụ phòng, chống thiên tai;

d) Thực hiện theo phương án, lộ trình phù hợp được phê duyệt, đảm bảo không gây gián đoạn việc cấp nước.

4. Trường hợp phát hiện việc khoanh định hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất không phù hợp với các tiêu chí quy định của Nghị định này thì phải tạm dừng việc thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất đối với các trường hợp đó để rà soát, điều chỉnh cho phù hợp. Trường hợp gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khai thác nước dưới đất thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Đề tài “Nghiên cứu tích hợp các chỉ số sử dụng bền vững tài nguyên nước và đất trong phân bổ nguồn nước vùng Nam sông Hậu” có những ưu thế gì so với các đề tài, dự án trước đây?

There are no translations available.

Trả lời:

Trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đã có nhiều đề tài, dự án có chủ đề nghiên cứu liên quan một phần đến chủ đề nghiên cứu của đề tài. Tuy nhiên, sản phẩm nghiên cứu của đề tài có những ưu điểm độc đáo riêng biệt mà các đề tài, dự án nghiên cứu trước đây chưa đạt được, cụ thể như sau:

+ Bộ chỉ số tích hợp sử dụng bền vững tài nguyên nước và đất chuyển giao từ Cộng hòa liên bang Đức, phục vụ phân bổ nguồn nước.

+ Đơn vị thực hiện đề tài cũng chính là đơn vị đã tiến hành các dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước ở vùng nghiên cứu nên có năng lực và nhiều kinh nghiệm trong đánh giá tài nguyên nước, đặc biệt toàn bộ các số liệu, dữ liệu gốc đều chứa đựng trong các kho lưu trữ tài liệu của đơn vị nên việc thu thập tài liệu phục vụ các hạng mục nghiên cứu của đề tài rất dễ dàng. Đơn vị cũng là nơi triển khai các bài toán quy hoạch tài nguyên nước trên toàn quốc trong đó có đồng bằng sông Cửu Long. Bản thân chủ nhiệm đề tài này cũng có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực xây dựng về chỉ số bền vững, đã có nhiều bài báo công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín trong nước, và có khả năng giao tiếp, cộng tác liên kết nghiên cứu với các đối tác nước ngoài. Điều này giúp cho sản phẩm của đề tài sẽ đạt được chất lượng cao.

- Các đối tác nghiên cứu nước ngoài đều là các nhà khoa học giảng dạy tại các đại học lớn và các công ty công nghệ hàng đầu của Cộng hòa Liên bang Đức, có nhiều kinh nghiệm và đã có các sản phẩm ứng dụng cụ thể ở Việt Nam và Đức. Cụ thể là kinh nghiệm của RIM, ESE trong các vấn đề sử dụng đất, nước (bao gồm nước ngầm, nước mặt) và sử dụng đất, nước thải (xét riêng nước mặt) với công nghệ nền tảng – cơ sở hạ tầng GIS quản lý thống nhất dữ liệu không gian đã và đang được áp dụng ở Cộng hòa Liên bang Đức; các kinh nghiệm của và các luận điểm quy hoạch tích hợp tài nguyên nước – đất đã được đưa vào áp dụng thử nghiệm ở phạm vi thượng nguồn lưu vực sông Đồng Nai thuộc địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong Dự án “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam” của GS. Harro Stolpe (hoàn thành 2013).

Do vậy, có cơ sở để tin tưởng rằng với sự hỗ trợ, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ từ phía Đức và với kinh nghiệm chuyên môn của các đơn vị, cá nhân thực hiện đề tài thì có thể xây dựng được bộ chỉ số sử dụng bền vững tài nguyên đất và nước phục vụ quy hoạch phân bổ nguồn nước cho khu vực Nam sông Hậu.

Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng khi thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ tích hợp đánh giá tài nguyên nước và đất phục vụ Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long” là gì?

There are no translations available.

Trả lời:

Năm 2018, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã triển khai thực hiện đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ tích hợp đánh giá tài nguyên nước và đất phục vụ Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long”, dự kiến hoàn thành năm 2021. Đề tài được thực hiện với mong muốn phát triển ra một bộ công cụ tích hợp bao gồm cơ sở dữ liệu về hiện trạng, sử dụng tài nguyên nước, đất và các mô hình, công cụ tính toán, đánh giá để giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách có thể đưa ra các quyết sách về sử dụng, quản lý các loại tài nguyên này một cách hài hòa, hợp lý và được thực hiện đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có và nhằm đáp ứng các mục tiêu đề ra, đề tài đã lựa chọn các cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng sau:

Cách tiếp cận:

- Thừa hưởng, tận dụng tối đa các kết quả, số liệu của các đề tài nghiên cứu, dự án điều tra, đánh giá tài nguyên nước - đất đã thực hiện trên vùng nghiên cứu.

- Tận dụng tối đa, sửa chữa, cập nhật, nâng cấp các mô hình, công cụ tính toán, đánh giá tài nguyên nước - đất đã có trên vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Chỉ xây dựng mới mô hình, công cụ tính toán trong trường hợp không thể tận dụng được mô hình đã có.

- Phối hợp với các đối tác ngoài nước để tìm hiểu, học hỏi những luận điểm tiên tiến trtong quy hoạch tích hợp tài nguyên nước - đất và công nghệ quản lý dữ liệu không gian Disy Informationssysteme GmbH; sử dụng nhân lực trong nước để tiếp tục phát triển và ứng dụng công nghệ học hỏi được vào mục đích nghiên cứu của đề tài.

Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:

- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu hiện có và điều tra thực địa bổ sung số liệu;

- Phương pháp ứng dụng GIS, mô hình số thủy văn và nước dưới đất: dự kiến sử dụng các gói phần mềm ArcGIS, DHI MIKE, Aquaveo GMS hay/và phần mềm mềm mã nguồn mở IMOD tại trang Web: http://bio3d.colorado.edu/imod/

- Phương pháp phân tích mẫu đất, nước (trong các phòng thí nghiệm trong, ngoài nước) cho mục đích bảo vệ môi trường trong quy hoạch sử dụng tích hợp tài nguyên nước - đất

- Phương pháp thống kê - xác suất

- Phương pháp chuyên gia: học hỏi, tham vấn kinh nghiệm của chuyên gia nước ngoài và trong nước về công nghệ

Tính mới, tính độc đáo, tính sáng tạo:

- Lần đầu xây dựng được bộ công cụ đánh giá tích hợp sử dụng nước - đất phục vụ cho các mục đích quy hoạch tổng thể ĐB SCL, trong đó tích hợp được các mô hình đánh giá sử dụng tài nguyên nước, đất trên cùng một nền tảng quản trị dữ liệu GIS - WebGIS có thể chạy trực tiếp trên máy tính cung cấp dịch vụ (tức là máy tính cài đặt công cụ kèm các mô hình tính toán) hay trên các máy tính khác thông qua Internet.

- Lồng ghép được các luận điểm tiên tiến về quy hoạch tích hợp tài nguyên nước sử dụng đất trong đánh giá mối quan hệ phụ thuộc giữa sử dụng đất - tài nguyên nước, đánh giá biến động tài nguyên và bài toán quy hoạch.