Thu10282021

Last update12:23:48 AM GMT

Hỏi - Đáp

Công tác bảo vệ tài nguyên nước dưới đất đô thị Tuy Hòa giải quyết các vấn đề nào?

There are no translations available.

Trả lời:

Dự án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” - Đô thị Tuy Hòa do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia ( Bộ Tài nguyên và Môi trường) thực hiện theo Quyết định số 3071/QĐ-BTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Phạm vi thực hiện được xác định bao gồm: toàn bộ thành phố Tuy Hòa và một phần các huyện Đông Hòa, Tây Hòa, Phú Hòa với tổng diện tích 680 km2.

Nhiệm vụ chính của dự án gồm: Xác định được điều kiện tồn tại, sự phân bố, số lượng, chất lượng nước dưới đất; Xác định nguy cơ và mức độ nhiễm mặn, ô nhiễm và cạn kiệt nước dưới đất; Thực hiện một số giải pháp kỹ thuật để bảo vệ nước dưới đất tại đô thị Tuy Hòa.

Trên cơ sở quy định của Luật Tài nguyên nước về bảo vệ tài nguyên nước và các vấn đề thực tế của các đô thị, công tác bảo vệ tài nguyên nước dưới đất đô thị Tuy Hòa tập trung nghiên cứu để giải quyết các vấn đề chính sau đây:

Khắc phục các vấn đề về cạn kiệt, ô nhiễm, nhiễm mặn của các tầng chứa nước.

- Phân tích dự báo xu thế biến động tài nguyên nước, xác định các vấn đề về khai thác sử dụng từ đó xây dựng và đề xuất các phương án khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất cho đô thị;

- Khoanh định và lập bản đồ vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, đề xuất các phương án hạn chế;

- Đánh giá và phân loại mức độ ô nhiễm đối với từng nguồn nước dưới đất, xây dựng bản đồ phân vùng mức độ ô nhiễm, nhiễm mặn các tầng chứa nước cần bảo vệ;

- Xác định mức độ cạn kiệt nước dưới đất trong từng tầng chứa nước, xác định mực nước giới hạn, đánh giá mức độ cạn kiệt tại các công trình khai thác nước dưới đất theo quy định tại Nghị định số 167/2018/NĐ-CP Quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất;

- Xây dựng các phương án hồi phục trữ lượng, chất lượng nước dưới đất đồng thời đưa ra thứ tự ưu tiên thực hiện cho từng vùng.

Bảo vệ chất lượng nước sinh hoạt.

- Phân tích, lựa chọn phương pháp xác định vùng bảo hộ vệ sinh cho các công trình lấy nước sinh hoạt, khoanh định vùng bảo vệ miền cấp cho các tầng chứa nước;

- Khoanh định và lập danh mục vùng bảo hộ vệ sinh cho các công trình lấy nước sinh hoạt.

Quan trắc, giám sát tài nguyên nước dưới đất.

- Rà soát hiện trạng mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất hiện hữu;

- Thiết kế mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất gồm cả về số lượng, chất lượng nước dưới đất, các hoạt động khai thác và xả thải vào nguồn nước;

- Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật xây dựng và vận hành mạng quan trắc nước dưới đất.

Thực hiện các giải pháp công trình.

- Hoàn thiện mạng quan trắc nước dưới đất: kế thừa mạng quan trắc trung ương, địa phương và các công trình thi công của đề án; luận chứng thiết kế mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất cho đô thị;

- Kết quả xác định và khoanh vùng các đới phòng hộ, bảo vệ sau khi hoàn thành sẽ bàn giao cho địa phương để tiến hành cắm mốc, xây dựng biển báo các hoạt động được phép, không được phép trong vùng bảo hộ;

- Đánh giá khả năng bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất: sau khi có kết quả điều tra, khoanh định miền cấp, miền vận động và thoát của nước dưới đất, đánh giá khả năng và xác định ví trí dự kiến xây dựng công trình bổ sung nhân tạo và bàn giao cho địa phương thực hiện.

Có bao nhiêu giải pháp khai thác nước dưới đất bền vững được đề xuất trong nghiên cứu “Xác định giới hạn khai thác hợp lý nước dưới đất qua nghiên cứu sự phục hồi tầng chứa nước trong quá trình thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác tại tỉnh Thái Bình“

There are no translations available.

Trả lời:

Theo kết quả tính toán của đề tài Xác định giới hạn khai thác hợp lý nước dưới đất qua nghiên cứu sự phục hồi tầng chứa nước trong quá trình thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác tại tỉnh Thái Bình“ cho thấy, trữ lượng có thể khai thác bền vững trên địa bàn tỉnh là 172.577 m3/ngày, huyện có trữ lượng có thể khai thác lớn nhất là Quỳnh Phụ với 51.357 m3/ngày, thành phố Thái Bình có trữ lượng thấp nhất là 1.162 m3/ngày. Trong khi đó, tổng lượng nước dưới đất khai thác năm 2011 là 168.494.095 m3/năm thì đến năm 2018 đã giảm xuống, lượng khai thác từ nước ngầm cho các công trình cấp nước tập trung chỉ chiếm 2% tổng lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt. Các huyện, thị như thành phố Thái Bình, Vũ Thư, Tiền Hải, Kiến Xương đã khai thác 100% từ nguồn nước mặt. Vì vậy, có thể nhận thấy nếu so sánh giữa tổng trữ lượng nước có thể khai thác và khối lượng nguồn nước dưới đất khai thác thì hiện trạng khai thác nguồn nước dưới đất ở Thái Bình vẫn nằm trong khung an toàn. Tuy nhiên, không vì lý do đó mà không quan tâm đến vấn đề bảo vệ nước dưới đất nữa. Nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt để ứng phó với nguy cơ thiên tai và sự cố môi trường trước mắt cũng như lâu dài, việc tìm ra các giải pháp khai thác, sử dụng nguồn nước dưới đất bền vững là rất cần thiết. Mặt khác, trên địa bàn tỉnh Thái Bình, hiện có hàng trăm nghìn giếng khoan không còn sử dụng, bị bỏ hoang, chưa được trám lấp, tiềm ẩn nguy cơ lan truyền ô nhiễm, nhiễm mặn giữa các tầng nước. Những chất thải từ các nguồn gây ô nhiễm trên bề mặt theo thời gian sẽ ngấm vào nguồn nước, tích tụ dần làm ô nhiễm nguồn nước dưới đất, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và sức khỏe người dân. Từ những nguyên nhân đó, đề tài nghiên cứu đã đề xuất 02 nhóm giải pháp để nâng cao hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên nước dưới đất bền vững tại tỉnh Thái Bình là: Giải pháp kỹ thuật và giải pháp chính sách.

Giải pháp về mặt kỹ thuật gồm: Khoanh vùng hạn chế khai thác và đề xuất công nghệ khai thác bền vững. Căn cứ vào đặc điểm các tầng chứa nước và hiện trạng xâm nhập mặn thực tế ở tỉnh, nhóm tác giả đã khoanh định được các khu vực hạn chế khai thác, khu vực bị nhiễm mặn và khu vực được phép khai thác của tầng chứa nước qh2 và qp như sau:

2-1b

- Tầng chứa nước qh2: phân bố ở sát mặt đất và có bề dày nhỏ, do vậy công nghệ khai thác phù hợp với tầng chứa nước này là những giếng khoan nông, hoặc những tuyến thu nước, hành lang thu nước dạng hào, lượng nước có thể khai thác tối đa trong tầng chứa nước này là 101.080 m3/ngày. Khu vực được phép khai thác phân bố rải rác trong toàn bộ tỉnh, tập trung chủ yếu ở huyện Hưng Hà (bao gồm các xã Tân Lễ, Cộng Hòa, Điệp Nông, Dân Chủ, Văn Cẩm, Duyên Hải, thị trấn Hưng Hà...), huyện Vũ Thư và huyện Kiến Xương.

- Tầng chứa nước qp: phần lớn đã bị nhiễm mặn, công nghệ khai thác phù hợp là những lỗ khoan sâu đường kính lớn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, lượng nước có thể khai thác tối đa trong tầng chứa nước này là 71.497 m3/ngày. Vùng được phép khai thác tập trung chủ yếu ở phía Tây bắc huyện Hưng Hà, phía Đông huyện Quỳnh Phụ và dải dác một vài vùng nhỏ thuộc huyện Đông Hưng và Thái Thụy.

Giải pháp về mặt chính sách: Theo chỉ thị số 25/CT-UBND của UBND tỉnh Thái Bình chủ trương sẽ dừng khai thác nước dưới đất và chuyển sang khai thác nguồn nước mặt. Nguồn nước dưới đất được coi là nguồn nước dự trữ và sẽ được khai thác sử dụng trong trường hợp các nguồn nước mặt gặp sự cố hoặc bị ô nhiễm. Do vậy cần tập trung bảo vệ nguồn nước dưới đất tránh bị ô nhiễm và xâm nhập mặn bằng cách thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

- Rà soát và trám lấp đúng kỹ thuật các giếng khoan không sử dụng của các hộ gia đình và điểm khai thác nước đơn lẻ để đảm bảo các tầng chứa nước không bị ảnh hưởng bởi các nguồn chất thải trên bề mặt.

- Tăng cường công tác quản lý các nguồn thải do thủy sản và các hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước.

- Xây dựng mạng lưới quan trắc, giám sát chất lượng nước, cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước để quản lý tổng hợp tài nguyên nước.

- Tuyên truyền giáo dục ý thức của người dân sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ chất lượng nguồn nước tránh gây ô nhiễm.

Phương pháp nào để đánh giá trữ lượng nước dưới đất tại đô thị Bắc Ninh?

There are no translations available.

Trả lời:

Để thành lập được các bản đồ tài nguyên nước dưới đất, công tác đánh giá trữ lượng nước nước dưới đất cần được thực hiện theo nội dung, phương pháp thống nhất. Trữ lượng nước dưới đất bao gồm trữ lượng tiềm năng và trữ lượng khai thác. Dưới đây là phương pháp xác định trữ lượng nước dưới đất ở các giai đoạn điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất khác nhau thuộc đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” – Đô thị Bắc Ninh, nhằm xây dựng được bản đồ tài nguyên nước dưới đất theo yêu cầu của các Thông tư quy định.

* Tiềm năng tài nguyên nước:

Tiềm năng tài nguyên nước dưới đất bao gồm hai thành phần là tiềm năng tích chứa và trữ lượng động. Tiềm năng tích chứa gồm tiềm năng tích chứa trọng lực và tiềm năng tích chứa đàn hồi. 

- Tiềm năng tích chứa trọng lực là lượng nước chứa trong các lỗ hổng, khe nứt của đất đá chứa nước và có khả năng thoát ra dưới tác dụng của trọng lực có thể lấy được trong một khoảng thời gian khai thác tính toán (thường là 10.000 ngày). Được xác định bằng công thức:

Vtl = mV = mtbhtbF (đối với tầng chứa nước không áp)                                     

Vtl = mV = mtbmtbF (đối với tầng chứa nước có áp)                                             

 Trong đó:

m-hệ số nhả nước trọng lực (có giá trị dao động từ 0 – 1 đơn vị),

V-thể tích đất đá chứa nước (m3),

mtb-hệ số nhả nước trọng lực trung bình của tầng chứa nước,

htb-chiều dày trung bình của tầng chứa nước không áp (m),

mtb-chiều dày trung bình tầng chứa nước có áp (m),

F-diện tích phân bố của tầng chứa nước (m2).

- Tiềm năng tích chứa đàn hồi là lượng nước sinh ra do khả năng đàn hồi của nước và của đất đá chứa nước khi hạ thấp mực áp lực trong những tầng chứa nước có áp có thể lấy được trong một khoảng thời gian khai thác tính toán (thường là 10.000 ngày). Được xác định bằng công thức:

Vđh = m*tbHtb

Trong đó:

m*tb-hệ số nhả nước đàn hồi,

Htb-chiều cao cột áp lực trung bình (m) tính từ mái tầng chứa nước đến mực nước áp lực,

F-diện tích phân bố của tầng chứa nước (m2).

- Trữ lượng động bao gồm lượng nước từ xung quanh chảy vào, lượng nước thấm xuyên từ tầng trên và tầng dưới liền kề, lượng nước bổ cập tự nhiên từ sông hồ, lượng nước khai thác … Có thể tính toán trữ lượng động bằng công cụ giải tích theo phương pháp N.N.Bindeman (số liệu quan trắc động thái mực nước tại lỗ khoan quan sát), theo công thức Darcy (dựa vào bản đồ thủy đẳng cao) và theo phương pháp thủy văn (hiệu số lưu lượng dòng chảy trên mặt tại 2 mặt cắt thủy văn); hoặc có thể sử dụng công cụ mô hình để tính toán trữ lượng động.

Tuỳ điều kiện của mỗi vùng có thể chỉ có một hoặc một số thành phần chiếm chủ yếu hình thành nên tiềm năng tài nguyên nước dưới đất, các thành phần khác không đáng kể có thể bỏ qua.

* Trữ lượng khai thác:

+ Tổng hợp trữ lượng khai thác đã được điều tra ở các giai đoạn trước.

+ Tính toán dự báo trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất: Được xác định đối với các khu vực có khả năng cung cấp lớn. Trữ lượng có thể khai thác dự báo sẽ được xác định bằng phương pháp mô hình số.

Để tính toán bằng phương pháp mô hình số cần xác định chính xác điều kiện biên, thông số địa chất thủy văn, hiện trạng khai thác thông qua kết quả điều tra. Xây dựng và chỉnh lý mô hình, sau đó tính toán dự báo độ hạ thấp mực nước cho phép có thể khai thác ở các công trình khai thác theo các phương án khai thác sử dụng nước dưới đất khác nhau.

Đâu là tiêu chí để xác định phạm vi bảo vệ nước dưới đất tại đô thị Vĩnh Yên?

There are no translations available.

Trả lời:

Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – đô thị Vĩnh Yên” với mục tiêu là làm sáng tỏ đặc điểm địa chất thủy văn của các tầng chứa nước cần bảo vệ; xác định được sự phân bố, miền cung cấp, vận động và thoát của các tầng chứa nước; xác định hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất; xác định các vùng nước dưới đất bị khai thác quá mức và định hướng bảo vệ miền cấp, miền phân bố của các tầng chứa nước đối với đô thị Vĩnh Yên. Trong quá trình thu thập, rà soát dữ liệu, thông tin thu thập đơn vị đã phân tích các tài liệu về cấu trúc địa chất, địa chất thủy văn; hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước đã xác định được sơ bộ đặc điểm địa chất thủy văn, miền cấp của các tầng chứa nước cần bảo vệ đối với đô thị Vĩnh Yên bao gồm cả các vùng lân cận. Vì vậy việc mở rộng diện tích bảo vệ nước dưới đất đối với đô thị Vĩnh Yên ra phía Bắc, Tây Bắc và phía Nam là cần thiết để đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ của đề án:

- Phía Bắc mở rộng đến huyện Tam Dương nằm trong lưu vực sông Phó Đáy là khu vực thu nước của lưu vực, là nguồn bổ cập cho tầng chứa nước đang khai thác tại nhà máy nước Hợp Thịnh;

- Phía Tây Nam và phía Nam mở rộng đến sông Hồng (biên cấp cho tầng chứa nước nằm nông), nằm trong diện tích của huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc, theo hướng dòng chảy nước dưới đất có xu hướng từ sông chảy vào trong tầng chứa nước đang khai thác chính là tầng chứa nước qp, là nguồn bổ cập cho nước dưới đất. Mặt khác trong địa bàn 2 huyện đã xảy ra các vấn đề về ô nhiễm nước dưới đất do hoạt động xả thải của các khu công nghiệp và các làng nghề tái chế phế liệu;

- Phía Nam mở rộng đến sông Cà Lồ thuộc một phần diện tích của huyện Bình Xuyên, nằm trong lưu vực sông Cà Lồ;

- Theo tài liệu quan trắc nước dưới đất thuộc mạng quan trắc quốc gia tại điểm Q.5 thành phố Vĩnh Yên mực nước dưới đất có xu hướng hạ thấp trong 10 năm gần đây do ảnh hưởng của hoạt động khai thác nước của nhà máy nước Ngô Quyền. Vì vậy việc cần thiết phải giảm lưu lượng khai thác của các bãi giếng khu vực thành phố Vĩnh Yên, chuyển hướng cung cấp nước từ các khu vực lân cận như huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc để đảm bảo duy trì nước sinh hoạt và sản xuất, giảm sự hạ thấp mực nước tại khu vực thành phố Vĩnh Yên, đảm bảo sự bền vững của nước dưới đất tại đô thị Vĩnh Yên.

Quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt ngày 26 tháng 10 năm 2011 về việc “Phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”, phạm vi của quy hoạch bao gồm: Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, huyện Bình Xuyên, một phần các huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo.

Ban_do_pham_vi_ncuu_do_thi_vinh_yenBản đồ phạm vi nghiên cứu đô thị Vĩnh Yên.

Với các tiêu chí nêu trên thì phạm vi bảo vệ nước dưới đất đô thị Vĩnh Yên được xác định gồm toàn bộ diện tích thành phố Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Tường, huyện Yên Lạc, một phần huyện Tam Dương và một phần các xã thuộc huyện Bình Xuyên với tổng diện tích khoảng 400 km2.

Nêu các bước vận hành của quy trình công nghệ lưu trữ nước ngọt trong tầng chứa nước mặn ở vùng đồng bằng sông Hồng?

There are no translations available.

Trả lời:

Lưu nước dưới đất là nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng trong việc phát triển kinh tế, an sinh xã hội trên thế giới. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các công nghệ lưu trữ nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn đề tài “Nghiên cứu đề xuất quy trình công nghệ tích nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn vùng Đồng bằng Sông Hồng“ đã hoàn thành nghiên cứu mang nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn, chủ nhiệm đề tài là Th.S Đào Văn Dũng. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xây dựng được quy trình công nghệ lưu trữ nước ngọt trong tầng chứa nước mặn ở vùng đồng bằng sông Hồng dựa trên mô hình ASR, bổ cập nước qua các giếng là một loại công nghệ cụ thể để bổ cập nước vào tầng chứa nước, thường được gọi là bổ cập tầng chứa nước được quản lý.

Để áp dụng thành công lưu trữ nước ngọt trong tầng chứa nước mặn cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng đúng đắn các quy trình cụ thể. Quy trình của việc xây dựng thiết kế và vận hành một dự án được đề xuất như sau:

- Quy trình xây dựng – vận hành thử nghiệm 

Sau khi nghiên cứu tổng quan, xác định được vị trí, lưu lượng cũng như khả năng đáp ứng của các tầng chứa nước, quy trình vận hành mô hình được đề xuất dưới đây là các bước cần thiết để đảm bảo vận hành công trình bền vững và ổn định. Cụ thể như sau:

Bước 1: Nghiên cứu, thăm dò địa tầng khu vực

+ Khoan thăm dò, lấy mẫu: Lấy mẫu toàn chiều sâu lỗ khoan

+ Đo Karota: Xác định chính xác địa tầng, mức độ đồng nhất của đất đá, độ mặn của nước trong tầng chứa nước,

+ Thiết kế giếng ASR cấu trúc phù hợp.

+ Khoan doa, chống ống và bơm thổi rửa.

+ Bơm thí nghiệm: Tiến hành bơm thí nghiệm với lưu lượng tốt nhất của giếng, tính toán thông số địa chất thủy văn, độ lỗ rỗng hữu hiệu của đất đá. Lấy và phân tích chất lượng nước.

Bước 2: Vận hành thử nghiệm, đánh giá khả năng lưu trữ

+ Trên cở sở kết quả bơm thí nghiệm, tiến hành thiết kế vận hành thử nghiệm hệ thống với ít nhất 3 vòng thí nghiệm, với thời gian thí nghiệm tương đương với khoảng thời gian vận hành chính thức. Lưu lượng ép và lưu lượng hút lấy bằng ½ lưu lượng bơm thí nghiệm.

+ Tính toán: hệ số thu hồi theo thời gian ở các vòng thí nghiệm.

+ Đánh giá chất lượng nước thu hồi theo thời gian của các vòng thí nghiệm (Quan trắc độ mặn theo thời gian, lấy mẫu đánh giá chất lượng nước).

+ Xây dựng đồ thị về sự thay đổi độ mặn của nước theo thời gian để tính toán các khoảng thời gian lưu trữ và thu hồi hiệu quả.

- Quy trình vận hành sản xuất 

Trên cơ sở các kết quả vận hành thử nghiệm tiến hành xây dựng quy trình vận hành sản xuất bao gồm các yếu tố sau:

+ Xác định khoảng thời gian bổ cập – lưu trữ và thu hồi: tính toán thời gian bổ cập và lưu trữ theo hiện trạng và mục tiêu của mỗi nhà máy nước hoặc đơn vị dùng nước.

+ Thiết kế quy trình: Bao gồm các thiết bị trong, ngoài giếng bổ cập – khai thác như máy bơm, hệ thống quan trắc.

+ Xác định quy trình bổ cập, thau rửa, thu hồi của các giếng ASR.

Một trong những vấn đề chính trong hoạt động của hệ thống ASR là công suất của giếng giảm xuống do tắc giếng (hiện tượng Clogging), đặc biệt là khi nước bổ cập có chứa nồng độ tổng chất rắn lơ lửng đáng kể kết hợp với tầng chứa nước hạt mịn. Việc tắc nghẽn giếng có thể được ngăn ngừa bằng cách xử lý trước nguồn nước bổ cập hoặc bằng cách rửa ngược thường xuyên. Một giếng bị tắc có thể được phục hồi bằng cách cọ rửa vật lý, axit hóa, phun và tẩy (Olsthoorn, 1982).

Quá trình vận hành mô hình lưu trữ kết hợp với quá trình vận hành của nhà máy nước trong điều kiện hiện nay đảm bảo cho việc lưu trữ nguồn nước ngọt trong thời gian lâu dài, không tốn chi phí và mặt bằng. Công nghệ này là cơ sở khoa học cần được áp dụng cho lưu trữ nguồn nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn đến các nhà máy, đơn vị khai thác sử dụng nước, đặc biệt là tại các khu vực ven biển, nơi thường phải chịu tác động lớn từ hạn hán và xâm nhập mặn.

Tài nguyên nước dưới đất ở Bình Định được định hướng khai thác, sử dụng và bảo vệ như thế nào trong tương lai?

There are no translations available.

Định hướng khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất
Theo 267/QĐ-UBND 2017 Quy hoạch cấp nước đô thị khu công nghiệp Bình Định 2035, định hướng quy hoạch khai thác.
Định hướng bảo vệ tài nguyên nước dưới đất
Theo Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ TN&MT), nguyên nhân không kiểm soát được các cơ sở xả thải gây ô nhiễm là do số lượng các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ rất lớn, phân tán, có thời gian hoạt động từ nhiều năm nay, hầu hết không có hệ thống xử lý nước thải. Nhiều đô thị, khu dân cư tập trung do trước đây không có quy hoạch hoặc có quy hoạch nhưng chưa tính tới xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, vì vậy không có mặt bằng (quỹ đất) để xây dựng hệ thống xử lý. Đó là chưa kể, việc đầu tư xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nước thải tốn nhiều kinh phí; ý thức chấp hành pháp luật còn thấp, trong khi việc xử lý vi phạm chưa nghiêm minh, chưa đúng mức hoặc còn liên quan đến vấn đề xã hội, công ăn việc làm của người lao động,...
Lo ngại về tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở một số sông trên phạm vi nghiên cứu, một số chuyên gia về tài nguyên nước đã kiến nghị, cần kiểm soát chặt chẽ việc xả nước thải vào nguồn nước để đảm bảo phù hợp với khả năng chịu tải cũng như khả năng tự làm sạch của nguồn nước tiếp nhận. Bởi chỉ có như vậy mới đảm bảo việc bảo vệ chất lượng nguồn nước các dòng sông lâu dài, phục vụ phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Trong thời gian tới, Bộ TN&MT sẽ tiếp tục và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, trước hết tập trung vào các khu, cụm công nghiệp, các cơ sở xả nước thải lớn hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm cao; phối hợp chặt chẽ với Cảnh sát môi trường, phát hiện, xử lý kiên quyết các trường hợp không tuân thủ các quy định về xả nước thải. Công bố công khai các cơ sở xả nước thải có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước và nghiên cứu cơ chế giám sát hoạt động xả nước thải tự động; huy động sự tham gia của cộng động địa phương tham gia giám sát. Đối với các dự án, khu công nghiệp mới, đang xây dựng sẽ tiến hành kiểm soát chặt chẽ các yêu cầu về bảo vệ tài nguyên nước và kiên quyết không cho đưa vào hoạt động, khi chưa hoàn thành hệ thống xử lý nước thải và chưa có phương án bảo vệ nguồn nước theo quy định.
Cần đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch TNN, trong đó chú trọng việc quy hoạch các vùng xả nước thải, xác định mục tiêu chất lượng nước trên các dòng sông; hình thành tổ chức lưu vực sông điều phối, giám sát các hoạt động bảo vệ tài nguyên nước chung trên toàn lưu vực sông cũng là công việc không kém phần quan trọng.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đang có dự kiến sẽ nghiên cứu áp dụng thí điểm mô hình hệ thống giám sát tự động, trực tuyến hoạt động xả nước thải của một số cơ sở sản xuất xả nước thải quy mô lớn hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Cùng với đó, sẽ tiến hành sửa đổi quy định xử phạt theo hướng tăng mạnh mức xử phạt bằng tiền và áp dụng chế tài đủ mạnh, đủ sức răn đe các cơ sở xả thải gây ô nhiễm nguồn nước.