Sat10232021

Last update12:17:51 AM GMT

Hỏi - Đáp

Xâm nhập mặn nước dưới đất đồng bằng sông Cửu Long: Đâu là yếu tố quyết định?

There are no translations available.

Trả lời:

Trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn diễn ra ngày càng nghiêm trọng, làm thiệt hại nặng nề đến sản xuất và dân sinh. Tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không chỉ nguồn nước mặt bị nhiễm mặn mà nguồn nước dưới đất cũng đã có dấu hiệu bị xâm nhập mặn. Vậy đâu là yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất vùng ĐBSCL?

Để trả lời được câu hỏi trên, kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất đồng bằng sông Cửu Long” được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia hoàn thành thực hiện từ năm 2017 đến năm 2020, do TS. Hoàng Văn Hoan chủ nhiệm đã xác định được các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất đồng bằng sông Cửu Long như sau:

- Yếu tố biến đổi khí hậu, nước biển dâng: Kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá đã chỉ ra, có 4 tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến tài nguyên nước dưới đất gồm: 1) Làm giảm cao độ tuyệt đối mực nước dưới đất (hình thành các phễu hạ thấp mực nước); 2) Làm tăng diện tích vùng có trị số hạ thấp mực nước dưới đất; 3) Làm tăng diện tích vùng chứa nước dưới đất mặn tăng; và 4) Làm giảm tổng lượng tích trữ nước dưới đất.

- Yếu tố thấm xuyên: Nước dưới đất trong các tầng chứa nước trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có xảy ra quá trình dịch chuyển vật chất do thấm xuyên gây ra. Các quá trình này do đặc điểm địa chất thủy văn của vùng với các tầng chứa nước nằm xen kẹp và theo thứ tự từ trên xuống. Mực nước, mực áp lực có đủ điều kiện để quá trình thấm xuyên xảy ra. Đặc điểm địa chất của vùng có các cửa sổ địa chất thủy văn, chiều dày của lớp cách nước giữa cách tầng chứa nước. Bằng kết quả chứng minh từ mẫu phân tích đồng vị đã chứng minh được nước dưới đất trong vùng có thấm xuyên diễn ra từ tầng này sang tầng khác. Tầng chứa nước trong vùng có điều kiện địa chất thủy văn bao gồm cả cửa sổ địa chất thủy văn do địa chất, do quá trình kiến tạo liên quan đến hoạt động của các đứt gãy trẻ trong vùng, qua sự phân bố và độ dày, sự có mặt của các lớp cách nước yếu là những con đường của nước dưới đất có thể thấm xuyên từ tầng chứa nước này qua tầng chứa nước khác cả 2 chiều từ tầng trên xuống tầng dưới và từ tầng dưới lên tầng trên. Kết quả xử lý tài liệu bơm hút nước thí nghiệm chùm tại khu vực bán đảo Cà Mau đã cho thấy yếu tố thấm xuyên xảy ra ở đay rất rõ nét, kết quả xử lý số liệu qua phần mềm Aquifer test với hệ số thấm xuyên trung bình đạt tới 221 m. Bên cạnh đó, Bằng kết quả nghiên cứu về tuổi của nước dưới đất, chuyên đề đã chứng minh được quá trình thấm xuyên có xảy ra trong các tầng chứa nước khi khai thác hình thành một nguồn trữ lượng khai thác đáng kể.

- Yếu tố vận động của dòng ngầm: Kết quả mô hình mô phỏng và dự báo quá trình biến đổi mặn nhạt của các tầng chứa nước dưới đất được thực hiện dựa trên cơ sở của mô hình dòng chảy nước dưới đất vùng ĐBSCL cho thấy xu hướng tăng TDS hay mặn hóa các tầng chứa nước chiếm ưu thế gần như tuyệt đối, cho thấy yếu tố vận động của dòng ngầm gây ra bởi các hoạt động khai thác nước dưới đất đóng vai trò quan trọng và chủ đạo trong các yếu tố quyết định đến quá trình xâm nhập mặn nước dưới đất đồng bằng sông Cửu Long.

Việt Nam là quốc gia có trên 3000 km bờ biển, tập trung hàng triệu người sinh sống và khai thác các nguồn lợi từ biển. Xâm nhập mặn diễn ra tại hầu hết các địa phương ven biển. Đồng bằng sông Cửu Long là nơi chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng này. Nhiều giải pháp đã được đưa ra, phần nào hạn chế được tình trạng xâm nhập mặn nhưng trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp thì trong thời gian tới, hiện tượng xâm nhập mặn vẫn là mối đe dọa lớn đến đời sống khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lương thực của cả nước.

Các giải pháp giảm thiểu sụt lún đất tại núi Móng Rồng, tỉnh Hà Nam?

There are no translations available.

Trả lời:

Sụt lún nền đất đang làm cho nhiều người dân tại khu vực núi Móng Rồng hết sức lo lắng do nhà ở bị nứt, nền nhà, nhà bị lún nghiêng. Để ngăn chặn tình trạng này việc tìm ra các giải pháp giảm thiểu sụt lún đất tại khu vực càng trở nên cần thiết.

Theo kết quả điều tra, khảo sát của đề án “Khảo sát, đánh giá nguyên nhân sụt lún tại núi Móng Rồng tiểu khu La Mát, tiểu khu Châu Giang, thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam” nguyên nhân gây sụt lún là do các yếu tố tự nhiên (Đá vôi nứt nẻ, phát triển hang động karst) hoạt động mạnh và ảnh hưởng của việc khai thác nước dưới đất tại các giếng của Công ty Tân Phát Nam Hà.

Trước nguy cơ sụt lún nền đất đang ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người dân, đề án đã đề xuất một số giải pháp, phương án khắc phục, phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại tại khu vực như sau: 

- Đối với các công trình mà địa phương quy hoạch hoặc cấp phép cho xây dựng có tải trọng lớn trên vùng này thì khuyến cáo nên phun trám lấp bê tông xi măng vào các vị trí hang đã được tài liệu điều tra để tránh sụt lún tiếp diễn.

- Đối với các giếng khai thác nước dưới đất của Công ty Tân phát Nam Hà thì địa phương có thể cho phép Công ty khai thác theo công suất thiết kế, và có chế độ khai thác phù hợp, nhưng phải trám lấp các hang các tơ, đới xung yếu nói trên bằng dung dịch xi măng, bê tông để tăng sức chịu tải của nền móng công trình và công ty phải có trách nhiệm theo dõi chặt chẽ tình hình sụt lún trong quá trình khai thác, nếu có hiện tượng sụt lún thì phải dừng ngay.

- Địa phương thường xuyên theo dõi các quá trình diễn biến sụt lún nên đất, nứt tường nhà và các hiện tượng khác để có các giải pháp xử lý kịp thời;

- Nghiêm cấm mọi hoạt động khai thác nước dưới đất tại các khu vực có nguy cơ cao về sụt lún theo kết quả địa vật lý đã chỉ ra là: vùng 1 phân bố tại phía Bắc khu vực nghiên cứu, phát triển ở độ sâu từ 25 đến 60m; vùng 2 phân bố từ đầu tiểu khu La Mát đến tiểu khu Châu Giang, đây là trung tâm sụt lún tại khu vực nghiên cứu, vùng này phát triển từ độ sâu từ 10 đến 70m; vùng 3 phân bố ở phía Nam khu vực nghiên cứu thuộc tiểu khu Châu Gang, phát triển tại độ sâu từ 45 đến 60m.

- Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước của địa phương cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc khai thác nước dưới đất, việc tuân thủ các quy định của giấy phép khai thác nước, các quy định của luật Tài nguyên nước. Tổ chức xây dựng mạng quan trắc để giám sát tình hình khai thác, biến đổi mực nước, sụt lún đất trong vùng.

Tóm lại, do đây là khu vực có tiềm năng cao về sụt lún, nên dù có tiếp tục hay không tiếp tục khai thác nước ngầm tại các giếng của Công ty Tân Phát Nam Hà hoặc không xây dựng các công trình có tải trọng lớn vì rất có thể khi đó vẫn gây nên mất hiện trạng cân bằng tải trọng tạm thời hiện nay. Vì vậy, nếu có kế hoạch quản lý tốt việc khai thác nước dưới đất thì tình trạng sụt lún nền đất có thể được giảm thiểu. Đồng thời, các cơ quan quản lý cũng như các sở ban ngành tại địa phương cần có kế hoạch khảo sát, đánh giá chi tiết tại khu vực trên để kịp thời giải quyết đảm bảo an toàn cho người dân và tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra.

Những khó khăn, thách thức phải đối mặt khi điều tra, tìm kiếm nguồn nước trên đảo Hòn Tre?

There are no translations available.

Trả lời:

4-1bDự án "Điều tra, đánh giá chi tiết tài nguyên nước phục vụ xây dựng công trình cấp nước cho các đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam" – đảo Hòn Tre sau gần 2 năm thi công (9/2012 - 7/2014) đã hoàn thành. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, đánh giá cũng như khai thác, vận hành các công trình này, còn gặp không ít những trở ngại.

 

Các khó khăn chính khi thực hiện dự án đó là: 

- Đảo xa đất liền nên điều kiện thi công gặp nhiều khó khăn trong công tác vận chuyển, cung cấp vật tư thiết bị.

- Cấu tạo các đảo đều là đảo đá, độ dốc lớn, đường giao thông trên đảo chưa phát triển, chất lượng đường nhiều chỗ rất kém nên việc vận chuyển, đi lại trên đảo từ vị trí này đến vị trí khác rất khó khăn.

- Về mùa khô, nước trên đảo cực kỳ khan hiếm, nước sinh hoạt người dân phải mua nước chở ra từ đất liền với giá rất cao, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của các tổ thi công. Vì vậy để có nước cho thi công và sinh hoạt của công nhân, đề nghị cho phép thi công khoan trong mùa mưa để giảm chi phí.

- Thêm vào đó, việc tìm kiếm được các nguồn nước dưới đất, lưu giữ được dưới các tầng đá cũng vô cùng khó. Trong 6 lỗ khoan thăm dò chỉ có 2 lỗ khoan tìm thấy nước ngầm, có nghĩa là tỷ lệ rủi ro rất lớn, trong khi yêu cầu cao (phải có nước mới đảm bảo được).

Ngoài những khó khăn trên, đồng thời dự án cũng phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn:

- Trên đảo không có tài nguyên nước mặt do đó yêu cầu phải có được thông tin toàn diện về tiềm năng nước dưới đất, để có thể đáp ứng tốt những yêu cầu này đơn vị thực hiện phải có đủ nguồn lực về con người cũng như trang thiết bị.

- 2 lỗ khoan cấp nước sau khi kết thúc thời gian quan trắc đều bàn giao cho địa phương quản lý nhưng chưa hiệu quả như mong đợi. Vì vậy, đề nghị mỗi vị trí khoan cần gắn với một đơn vị cụ thể nào đó (ví dụ UBND, cơ quan, trường học), để khi lỗ khoan có nước, Nhà nước cấp kinh phí lắp đặt công tác khai dẫn và bàn giao tay 3 (gồm địa phương, cơ quan và đơn vị thi công) để cơ quan đó quản lý, sử dụng và mang lại hiệu quả cao nhất phục vụ mục đích cộng đồng.

Trong điều kiện kinh phí hạn chế nhưng phải đầu tư nghiên cứu giải quyết nhiều vấn đề sẽ là khó khăn cho các đơn vị thực hiện. Để có kết quả tốt phải triển khai một cách bài bản, làm tới đâu chắc tới đó. Việc tìm kiếm ra nguồn nước phục vụ cho người dân trên đảo có ý nghĩa rất lớn trong việc ổn định đời sống nhân dân trên đảo Hòn Tre và củng cố tinh thần đoàn kết giữa nhân dân với lực lượng an ninh, quốc phòng trên đảo nhằm mục đích bảo vệ bình yên vùng biển đảo của Tổ quốc

Các mô hình thường được sử dụng trong dự báo tài nguyên nước mặt ở Việt Nam hiện nay là gì?

There are no translations available.

Trả lời:

Dự báo tài nguyên nước mặt là dự báo diễn biến cả về số lượng và chất lượng nước mặt theo thời gian và không gian trên lưu vực sông, nhằm cung cấp thông tin cho các hộ khai thác sử dụng nước có kế hoạch khai thác và cho cơ quan quản lý tài nguyên nước phân bổ nguồn nước hợp lý cho các hộ khai thác sử dụng trong tình trạng nguồn nước bị khan hiếm, thiếu hụt.

Mô hình dự báo tài nguyên nước mặt ở Việt Nam hiện nay

* Mô hình toán dự báo mưa rào - dòng chảy:

1. Mô hình NAM: là mô hình mưa dòng chảy mặt, là mô đun trong bộ phần mềm MIKE do Viện Thuỷ lực Đan Mạch DHI phát triển.

- Ưu điểm: giao diện rất thuận tiện, kết nối với GIS và có chức năng tự động hiệu chỉnh thông số của mô hình.

- Khả năng áp dụng: NAM là một mô hình tốt, được áp dụng ở nhiều nơi, mô hình tính toán dòng chảy từ các yếu tố khí tượng như lượng mưa, bốc hơi phục vụ cho công tác phục hồi số liệu, bổ sung số liệu, dự báo dòng chảy... dùng cho việc quy hoạch hệ thống thuỷ lợi, tính toán thiết kế công trình và xây dựng các qui trình vận hành hồ chứa nước...

2. Mô hình TANK: Mô hình TANK ra đời năm 1956 tại Trung tâm Quốc gia phòng chống lũ lụt của Nhật bản, tác giả M.Sugawara. Từ đó đến này mô hình đã được hoàn thiện dần và ứng dụng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới.

- Ưu điểm: là một trong những mô hình được coi là mô phỏng tốt quá trình dòng chảy trong lưu vực sông.  

- Nhược điểm: có nhiều thông số nhưng chưa có chức năng tự động hiệu chỉnh thông số, do đó yêu cầu người làm mô hình phải có nhiều kinh nghiệm lựa chọn thông số mô hình.

- Khả năng áp dụng: Mô hình tính toán dòng chảy từ các yếu tố khí tượng như lượng mưa, bốc hơi phục vụ cho công tác phục hồi số liệu, bổ sung số liệu, dự báo dòng chảy... dùng cho việc quy hoạch hệ thống thuỷ lợi, tính toán xây dựng các qui trình vận hành hồ chứa nước...

3. Mô hình SSARR: Mô hình SSARR được giới thiệu năm 1958 do nhóm kỹ sư thuộc quân lực Mỹ, tác giả là Rockwood. Đây là một mô hình thủy văn tổng hợp dòng chảy và điều hành hồ chứa, mô hình trình bày chu trình chuyển động tuần hoàn của nước trên lưu vực trong đó dòng chảy được tổng từ mưa và được diễn toán qua hệ thống sông ngòi thuộc lưu vực.

- Ưu điểm: mô hình thể hiện quan hệ mưa - dòng chảy một cách chi tiết, hợp lý. Các yếu tố thuỷ văn được phân tích cho mỗi lưu vực tương đối đồng nhất.

- Nhược điểm: giao diện mô hình chưa tiện ích, có nhiều thông số nhưng chưa có chức năng tự động hiệu chỉnh thông số, do đó yêu cầu người làm mô hình phải có nhiều kinh nghiệm lựa chọn thông số mô hình.

- Khả năng áp dụng: được dùng để tính toán khôi phục dòng chảy từ mưa, tính toán dự báo dòng chảy lũ và vận hành hồ chứa cắt lũ …

* Mô hình tính toán cân bằng nước:

4. Mô hình MITSIM: là một mô hình tính toán cân bằng nước trên một lưu vực do Học viện kỹ thuật Massachusetts (Hoa Kỳ) phát triển. Đây là mô hình mô phỏng, một công cụ để đánh giá, định hướng việc quy hoạch và quản lý một lưu vực sông.

- Ưu điểm: Mô phỏng nhiều phương án phát triển nguồn nước trong thời gian ngắn; cân đối và lựa chọn các phương án với các mục tiêu khai thác nguồn nước khác nhau: Chống lũ, phát điện, tưới…

- Khả năng ứng dụng: mô hình có thể đánh giá các tác động của các phương án khai thác nguồn nước của các hệ thống tưới, hồ chứa (gồm cả nhà máy thuỷ điện), cấp nước sinh hoạt và công nghiệp tại nhiều vị trí khác nhau. Ngoài ra mô hình còn xem xét đến việc khai thác nước ngầm.

5. Mô hình MIKE BASIN: Mô hình MIKE BASIN do Viện thuỷ lực Đan Mạch (ĐHI) xây dựng, là một công cụ tính toán cân bằng giữa nhu cầu về nước và nước có sẵn theo cách tối ưu nhất.

- Ưu điểm: giao diện tiện dụng và thân thiện; là một công cụ mạnh để giải quyết các bài toán cân bằng nước trong quy hoạch phát triển và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước trên các lưu vực sông. 

- Khả năng áp dụng: mô hình được áp dụng rộng rãi để tính toán cân bằng nước trong các dự án quy hoạch phát triển tài nguyên nước, quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước

6. Mô hình WEAP: là một mô hình thủy văn số trợ giúp việc đánh giá và quy hoạch nguồn nước do Viện Môi trường Stockholm phát triển và xây dựng.

- Ưu điểm: là một phần mềm gần như miễn phí (đăng ký và nhận giấy phép sử dụng phần mềm cứ 6 tháng 1 lần, có gia hạn thêm), giao diện dựa trên nền tảng GIS nên rất dễ sử dụng.

- Khả năng áp dụng: mô hình có thể ứng dụng tốt trong điều kiện số liệu sẵn có ở Việt nam.

* Mô hình tính diễn biến dòng chảy trong sông:

7. Mô hình VRSAP:

- Ưu điểm: Thuật toán và tính năng đảm bảo độ ổn định và hội tụ của mô hình. 

- Nhược điểm: Việc áp dụng mô hình tương đối phức tạp, cần nhiều kinh nghiệm xử lý cụ thể, giao diện chưa trực quan và chưa có kết nối GIS. 

- Khả năng áp dụng: Mô hình dựa trên bài toán một chiều nên việc ứng dụng cũng có những hạn chế nhất định. Tuy nhiên, đây là mô hình thuỷ lực hiện đang được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam cho các dự án quy hoạch thuỷ lợi do các cơ quan trong và ngoài nước thực hiện.

8. Mô hình MIKE 11:

MIKE 11 là một gói phần mềm kỹ thuật chuyên môn để mô phỏng lưu lượng, chất lượng nước và vận chuyển bùn cát ở cửa sông, sông, hệ thống thuỷ lợi, kênh dẫn và các vật thể nước khác. Mô-đun mô hình thủy động lực (HD) là một phần trọng tâm của hệ thống lập mô hình MIKE 11 và hình thành cơ sở cho hầu hết các mô-đun bao gồm: Dự báo lũ, tải khuyếch tán, chất lượng nước và các mô-đun vận chuyển bùn lắng không có cố kết. Mô-đun MIKE11-HD giải các phương trình tổng hợp theo phương đứng để đảm bảo tính liên tục và động lượng (momentum), nghĩa là phương trình Saint Venant.

9. Mô hình MIKE 21: Phần mềm ứng dụng MIKE 21 được phát triển bởi Viện thuỷ lực Đan Mạch. Mô hình 2 chiều lưới thẳng MIKE21 (bao gồm các module thuỷ lực, thuỷ văn, chất lượng nước, vận chuyển bùn cát, vỡ đập...). Hiện nay mô hình đã được chuyển giao, đào tạo và ứng dụng có hiệu quả tại một số cơ quan trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Tủy vào từng điều kiện lưu vực khác nhau mà lựa chọn sử dụng mô hình dự báo và hiệu chỉnh thông số cho phù hợp. Ở Việt Nam, các mô hình dự báo trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường chưa nhiều. Mỗi lĩnh vực đặc thù đều áp dụng những công cụ/mô hình riêng, đáp ứng những yêu cầu cụ thể, những mô hình này chủ yếu chỉ áp dụng cho chuyên môn sâu. 

Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” – Đô thị Cà Mau là gì?

There are no translations available.

Trả lời:

Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” – Đô thị Cà Mau do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia chủ trì thực hiện nhằm đánh giá nguồn nước dưới đất ở vùng dô thị, đề xuất các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất cho đô thị Cà Mau.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài cụ thể là:

+ Tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên (qp2-3): có diện phân bố nước nhạt lớn, chiếm 46% diện tích thành phố Cà Mau; lưu lượng khai thác của tầng hiện nay khoảng 16.758m3/ngày; tốc độ hạ thấp mực nước (giai đoạn 2004-2015) là 0,46m/năm.

+ Tầng chứa nước Pliocen giữa (n22): nước nhạt phân bố trên toàn vùng thành phố Cà Mau; lưu lượng khai thác của tầng hiện nay khoảng 67.962m3/ngày; tốc độ hạ thấp mực nước (giai đoạn 2004-2015) là 0,79m/năm.

+ Tầng chứa nước Pliocen dưới (n21): có diện phân bố nước nhạt lớn, chiếm 97% diện tích thành phố Cà Mau; lưu lượng khai thác của tầng hiện nay khoảng 2.830m3/ngày; tốc độ hạ thấp mực nước (giai đoạn 2004-2011) là 1,0m/năm.

Riêng đối với tầng chứa nước qp1 do có diện phân bố nước nhạt nhỏ (chiếm 25% diện tích thành phố Cà Mau), thành phần cát hạt mịn, chiều dày biến đổi lớn nên hầu như không có công trình khai thác trong tầng này. Do đó, đề án không đưa tầng chứa nước qp1 vào đối tượng cần bảo vệ.

Phạm vi nghiên cứu:

Như đã trình bày ở trên, đối tượng được lựa chọn để bảo vệ là các tầng chứa nước qp2-3, n22, n21. Đây là các tầng chứa nước đang được khai thác chủ yếu và có tốc độ hạ thấp lớn (>0,3m/năm), trong đó tầng khai thác chính n22 có ranh mặn ở phía nam vùng nghiên cứu (vị trí gần nhất cách thành phố Cà Mau khoảng 2km). Ranh mặn tầng chứa nước n21 ở phía bắc và phía nam cách thành phố Cà Mau khoảng 3-5km. Vùng xung quanh thành phố Cà Mau không có nhà máy khai thác nước tập trung, công suất lớn. Do đó, theo tiêu chí trên đề án mở rộng phạm vi nghiên cứu về phía nam đến ranh mặn tầng chứa nước n22 và n21, mở rộng về phía bắc đến ranh mặn tầng chứa nước n21.

 

bai_5-2bBản đồ phạm vi nghiên cứu đô thị Cà Mau.

Như vậy, phạm vi đề án thực hiện trên diện tích 407,0 km2, bao gồm toàn bộ diện tích thành phố Cà Mau (249,23km2) và phần diện tích 157,77 km2 là khu vực tiếp giáp với thành phố Cà Mau, khu tiếp giáp này thuộc các xã Tân Trung, Tạ An Khương của huyện Đầm Dơi; các xã Lương Thế Trân, Thạnh Phú, Phú Hưng, Tân Hưng của huyện Cái Nước và các xã Tân Lộc, Tân Lộc Đông của huyện Thới Bình.

Phương pháp và nội dung thực hiện công tác địa vật lý sử dụng khi thực hiện Đề án Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn – Đô thị Quảng Ngãi là gì?

There are no translations available.

Trả lời:

Công tác Địa Vật lý có nhiệm vụ là xác định chiều sâu, bề dày các tầng chứa nước, vị trí thích hợp để bố trí các lỗ khoan nghiên cứu; chính xác hóa ranh giới mặn nhạt các tầng chứa nước; xác định hướng vận động của nước dưới đất trong vùng nghiên cứu.

Căn cứ vào điều kiện địa hình, đặc điểm địa chất – địa chất thủy văn và mức độ nghiên cứu chi tiết cho các vùng điều tra, đánh giá bảo vệ nước dưới đất, để có tài liệu và cơ sở cho việc lựa chọn vị trí, chiều sâu khoan hợp lý và đánh giá trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất, Đề án lựa chọn các phương pháp sau:

- Phương pháp đo sâu điện đối xứng: thực hiện ở các tuyến nghiên cứu cấu trúc địa chất thủy văn chuẩn, các chùm lỗ khoan vùng ven sông, ranh giới mặn nhạt, vị trí đặt các cặp lỗ khoan và các lỗ khoan đơn. Khoảng cách đo 50-1.000m/điểm, cự ly AB/2 Max = 325m-1000m.

- Phương pháp đo sâu phân cực kích thích: thực hiện ở điểm khoan nghiên cứu địa chất thủy văn xác định ranh giới mặn nhạt, các điểm nghiên cứu nhiễm bẩn nước dưới dất. Khoảng cách đo 50-200m/điểm, cự ly AB/2Max = 325m.

- Phương pháp đo karota lỗ khoan: xác định chính xác cột địa tầng lỗ khoan, xác định mức độ mặn nhạt, nhiễm bẩn theo chiều sâu của các tầng chứa nước nghiên cứu.

Nội dung thực hiện:

- Đối với đo xác định cấu trúc: Căn cứ vào điều kiện trong khu vực hệ thống tuyến đo sâu điện thuần tuý, được đo theo mạng lưới song song để thu thập các thông tin theo diện, với chiều dài dự kiến 3 ÷ 8km/tuyến, khoảng cách tuyến từ 2 ÷ 4km, khoảng cách điểm 200 ÷ 250m. Khối lượng 200 điểm, AB/2max = 150m.

- Đối với đo để xác định vị trí lỗ khoan/chùm lỗ khoan nghiên cứu địa chất thủy văn: Với mỗi vị trí dự kiến đo 30 điểm được bố trí trên 02 tuyến, chiều dài mỗi tuyến khoảng 280m, khoảng cách tuyến khoảng 100 ÷ 200m; khoảng cách điểm 20 ÷ 25m. Khối lượng cho 06 vị trí là 180 điểm, AB/2max = 150m.

- Đối với tuyến đo xác định và chính xác hóa ranh giới mặn - nhạt: đề án thực hiện bố trí 3 tuyến đo bổ sung ở khu vực phía nam đô thị. Tuyến đo có chiều dài dự kiến 2 ÷ 3km/tuyến, khoảng cách tuyến từ 2 ÷ 3km, khoảng cách điểm 200 ÷ 250m, đo đan dày 100m. Khối lượng 40 điểm, AB/2max = 150m.

+ Đối với đo nạp điện xác định hướng và vận tốc dòng chảy nước dưới đất bằng phương pháp thăm dò điện nghiên cứu trường điện hoặc trường từ của đối tượng có độ dẫn điện cao hơn môi trường vây quanh khi cắm một điện cực nạp dòng điện vào đối tượng nghiên cứu, còn điện cực kia ở xa "vô cùng".