Thu10222020

Last update02:00:00 PM GMT

Sự cần thiết của việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải các sông liên tỉnh, liên quốc gia thuộc khu vực Bắc Trung Bộ.

Bắc Trung Bộ là phần phía Bắc của Trung Bộ Việt Nam có diện tích khoảng 51.552 km2, nằm trải dài từ dãy Tam Điệp tới phía Bắc đèo Hải Vân, bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Năm 2018, vùng Bắc Trung Bộ đạt 431,82 nghìn tỷ, đóng góp 44,5% vào quy mô kinh tế miền Trung. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội đồng thời việc gia tăng dân số trong khu vực (năm 2018 dân số là 7,97 triệu người) dẫn đến sự gia tăng các nguồn thải, gây sức ép cho môi trường ngày càng lớn, làm suy giảm chất lượng nước các sông, đặc biệt tại các đoạn sông chảy qua các khu công nghiệp, khu dân cư tập trung.
Khu vực Bắc Trung Bộ có mật độ sông suối dày đặc, trong đó bao gồm nhiều hệ thống sông liên tỉnh, liên quốc gia. Đặc biệt là hệ thống sông Mã và sông Cả là các sông xuyên biên giới hiện đang được đặc biệt quan tâm cả về kinh tế - xã hội đến môi trường. Hai lưu vực sông này cũng là nguồn cung cấp nước chính cho các ngành kinh tế - xã hội của Bắc Trung Bộ.
2a-28
Sông Mã thuộc khu vực Bắc Trung Bộ trải rộng trên lãnh thổ của tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An, có tiềm năng rất lớn về đất đai, tài nguyên nước, thủy năng, rừng và thủy hải sản. Vùng có tốc độ phát triển kinh tế cao và chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nhất là trên địa phận tỉnh Thanh Hóa. Đây cũng là nơi đòi hỏi nhiều tới nguồn nước và yêu cầu giảm nhẹ thiên tai do nguồn nước gây ra. Hiện nay, tình trạng thiếu nước trong mùa khô vẫn diễn ra do số lượng các công trình cấp nước sạch còn hạn chế; thông tin dữ liệu và quản lý tài nguyên nước ở địa phương còn thiếu tính đồng bộ, chưa đầy đủ, đặc biệt tại các huyện vùng cao. Chất lượng nước các sông những năm gần đây (2017¬2018) có dấu hiệu suy giảm so với các năm trước, đặc biệt là hàm lượng các chất TSS và Fe cao (vượt mức B1 QCVN 08-MT:2015/BTNMT): dòng chính sông Mã đoạn qua Tào Xuyên-TP. Thanh Hóa, Hoằng Giang-Hoằng Hóa, Vĩnh An-Vĩnh Lộc. Một số phụ lưu như sông Bưởi do chịu tác động của nước thải sản xuất chưa qua xử lý đã xảy ra hiện tượng ô nhiễm nguồn nước, dẫn đến những sự cố gây chết cá hàng loạt; sông Yên đoạn chảy qua xã Thanh Thủy-Tĩnh Gia bị ô nhiễm amoni; sông Hoạt đoạn qua xã Hà Hải-Hà Trung ô nhiễm photphat.
Sông Cả thuộc khu vực Bắc Trung Bộ bao trùm hầu hết diện tích hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và một phần diện tích tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay, kinh tế các địa phương dọc lưu vực sông còn nhiều khó khăn, 80% dân số sống dựa vào nông nghiệp. Trong những năm qua, tình trạng hạn hán đã xảy ra trên diện rộng, trong đó hạn nặng chiếm tới 30% diện tích hạn và hàng trăm hệ thống hồ xuống gần mực nước chết làm suy giảm mạnh mực nước trên các triền sông là nguyên nhân chính mặn xâm nhập sâu và ảnh hưởng mạnh đến khả năng lấy nước của các công trình. Kết quả quan trắc cho thấy môi trường nước mặt lưu vực sông Cả trong 02 năm 2017-2018 ghi nhận tình trạng ô nhiễm do chất hữu cơ, các hợp chất chứa Nitơ, Fe và TSS vượt QCVN 08- MT:2015/BTNMT cột A2) từ 13 - 72%, đặc biệt tại vùng hạ lưu sông Cả hàm lượng TSS vượt khoảng 1,5-3 lần so với GHCP, hàm lượng COD vượt GHCP dưới 1,5 lần, hàm lượng BOD5 vượt GHCP dưới 2 lần; ô nhiễm chất dinh dưỡng, Fe, Mn xuất hiện tại vị trí bara Bến Thủy ngày càng cao.
Nguyên nhân gây ra hiện trạng ô nhiễm trên các lưu vực sông trong khu vực do các khu công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất, trang trại chăn nuôi, khu dân cư tập trung vẫn xả nước thải trực tiếp chưa qua xử lý xuống hệ thống sông, hồ. Ngoài ra, trong khu vực còn khá nhiều các điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật. Hệ thống thoát nước tại các kho chứa hầu như không có nên khi mưa lớn rửa trôi thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng gây ô nhiễm nước mặt trên diện rộng.
Trong những năm qua, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương đã triển khai nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng ô nhiễm trên để bảo vệ nguồn nước, đặc biệt chú trọng vấn đề đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước. Ngày 23/6/2014, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/20 tại Mục 1, Chương VI (từ Điều 52 đến Điều 55) quy định rõ các nội dung về kiểm soát, đánh giá chất lượng nước; đánh giá khả năng tự làm sạch của sông; đánh giá sức chịu tải của các lưu vực sông; công khai thông tin về chất lượng nước sông; công bố các đoạn sông, dòng sông không còn khả năng tiếp nhận chất thải; khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường những dòng sông, đoạn sông bị ô nhiễm; kiểm soát, giảm thiểu và xử lý mọi nguồn thải vào lưu vực sông; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường nước sông. Tại Mục 2, Điều 55 quy định rõ trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với bảo vệ môi trường nước lưu vực sông: “Điều tra, đánh giá sức chịu tải, xác định hạn ngạch xả nước thải phù hợp với mục tiêu sử dụng nước và công bố thông tin”.
Ngày 24/5/2015 Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu tại Khoản 25, Khoản 26 - Điều 3, Khoản 4 - Điều 41 có nêu rõ: “Sức chịu tải của môi trường nước là khả năng tiếp nhận thêm chất gây ô nhiễm mà vẫn bảo đảm nồng độ các chất ô nhiễm không vượt quá giá trị giới hạn được quy định trong các quy chuẩn kỹ thuật môi trường cho mục đích sử dụng của nguồn tiếp nhận. Hạn ngạch xả nước thải là giới hạn tải lượng của từng chất gây ô nhiễm hoặc thông số trong nước thải do cơ quan quản lý nhà nước ban hành đối với từng nguồn tiếp nhận nước thải nhằm bảo đảm việc xả nước thải không vượt quá sức chịu tải của môi trường nước. Sức chịu tải của môi trường nước và hạn ngạch xả nước thải là một trong những căn cứ phục vụ lập hoặc điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư, chứng nhận đầu tư cho các dự án”.
Vì Vậy, việc thực hiện nhiệm vụ “Đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải các sông liên tỉnh, liên quốc gia thuộc khu vực Bắc Trung Bộ. Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững” là rất có ý nghĩa và đặc biệt cần thiết; đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước, phục vụ công tác quản lý, cấp phép, bảo vệ và quy hoạch tài nguyên nước trong thời điểm hiện nay, đặc biệt trên hai lưu vực sông Mã và sông Cả.