Wed02242021

Last update05:41:13 AM GMT

Cần phải có một bộ công cụ hỗ trợ hữu hiệu gồm cơ sở dữ liệu chứa đựng các số liệu liên quan tích hợp với các công cụ đánh giá tài nguyên nước, đất

Trong nhiều năm trở lại đây, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã và đang phải chịu những ảnh hưởng ngày càng nặng nề của các hiện tượng cực đoan như hạn hán, xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu, El Nino, nước biển dâng… Các hiện tượng này tác động mạnh mẽ đến cuộc sống cũng như các hoạt động sản suất và sinh hoạt của người dân nơi đây. Biểu hiện rõ rệt nhất của các tác động này là sự gia tăng (cả về cường độ, diện tích xảy ra và thời gian xuất hiện) hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn gây nên các khó khăn trong việc cấp nước sinh hoạt – sản xuất, làm sụt giảm sản lượng sản lượng lúa nước, nuôi trồng thủy sản tài và cũng tác động tới tài nguyên nước, tài nguyên đất trong vùng.
Do điều kiện đặc thù của vùng, trong những năm gần đây, công tác quy hoạch nói chung đã được Đảng và Nhà nước chú trọng trên cả quy mô vùng miền cũng như địa phương. Trong năm 2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa phê duyệt quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030 ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong năm 2017, Bộ Tài nguyên Môi trường cũng đã cho triển khai Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Cửu Long (giai đoạn lập nhiệm vụ). Mới đây nhất, trong nghị quyết 120/NQ-CP ban hành ngày 17/11/2017 đã nêu rõ: phải đương đầu, biến các thách thức thành cơ hội; và trong bối cảnh tài nguyên đang khan hiếm, cần thiết phải coi nước nhiễm mặn cũng là một nguồn tài nguyên. Trong nghị quyết này, định hướng chung được đưa ra là phải có sự kết hợp một cách tổng thể, hướng tới sử dụng các loại tài nguyên như một khối thống nhất, hài hòa, hợp lý. Tuy nhiên, việc kết hợp các loại kế hoạch, quy hoạch, định hướng sử dụng bền vững các loại tài nguyên mà đặc biệt là tài nguyên nước và đất tại từng vùng miền, địa phương phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ sẵn có và biến động tài nguyên (nước và đất); hiệu quả sử dụng (tức là sử dụng bao nhiêu tài nguyên/đơn vị sản phẩm) và hiệu quả kinh tế sử dụng tài nguyên (tức là sinh ra được bao nhiêu lợi nhận/đơn vị tài nguyên được sử dụng); lợi thế so sánh địa phương (tức là vị trí địa lý) và cơ sở hạ tầng; đảm bảo sinh kế bền vững, v.v. Nói một cách khác, cần có một bộ công cụ tích hợp bao gồm cơ sở dữ liệu về hiện trạng, sử dụng tài nguyên nước, đất và các mô hình, công cụ tính toán, đánh giá để giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách có thể đưa ra các quyết sách về sử dụng, quản lý các loại tài nguyên này một cách hài hòa, hợp lý và được thực hiện đối với từng vùng, từng địa phương cụ thể.
Xét ở góc độ tài nguyên, đất và nước có mối quan hệ mật thiết với nhau, việc sử dụng đất phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm cả về số lượng và chất lượng của nguồn nước, ngược lại, việc sử dụng đất không hài hòa, không hợp lý sẽ dẫn đến nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và không đạt hiệu quả kinh tế. Trong một quy hoạch tổng thể cho vùng ĐBSCL, mối quan hệ giữa sử dụng tài nguyên nước và đất cần phải được xét đến, và quy hoạch này sẽ phải giải quyết bài toán sử dụng tài nguyên nước và đất một cách thích ứng và hài hoà với nguồn nước sẵn có, và đánh giá được biến động tài nguyên và sử dụng tài nguyên là một trong những vấn đề cốt lõi làm cơ sở cho quy hoạch tổng thể cho vùng ĐBSCL Như vậy, cần phải có một bộ công cụ hỗ trợ hữu hiệu gồm cơ sở dữ liệu chứa đựng các số liệu liên quan tích hợp với các công cụ đánh giá tài nguyên (nước, đất).
Các vấn đề sẽ phải giải quyết khi lập quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Cửu Long là khai thác sử dụng bền vững tài nguyên, đảm bảo sinh kế, xử lý môi trường và bảo tồn hệ sinh thái. Đó là những vấn đề đa ngành, đa lĩnh vực đòi hỏi kiến thức của nhiều chuyên gia, đặc biệt là các chuyên gia quốc tế. Đối tác nghiên cứu phía Đức (cụ thể Khoa công nghệ môi trường và sinh thái của Đại học Bochum) có nhiều kinh nghiệm về quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên, xử lý môi trường và bảo tồn hệ sinh thái. Ngoài ra, công nghệ DISY – Informationssysteme GmbH là một hệ thống quản trị dữ liệu không gian mở tiên tiến trên nền tảng WebGIS của Cộng hòa Liên bang Đức. Do dựa trên mã nguồn mở nên DISY có thể dễ dàng sửa đổi, mở rộng và tích hợp kết quả của các ứng dụng khác tùy
mục đích sử dụng. Đây là ưu điểm rất lớn cần thiết cho một hệ quản trị dữ liệu không gian các số liệu tính toán, các bản đồ về tài nguyên nước – đất phục vụ việc giám sát thực hiện quy hoạch và ra quyết định hỗ trợ kịp thời. Việc cùng hợp tác với phía Đức trong đề xuất nghiên cứu này mang lại các lợi ích: (i) Sử dụng được tổng nguồn lực tài chính của cả 2 phía Việt Nam và Đức trong hỗ trợ lập quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Cửu Long; (ii) Tận dụng được thế mạnh của từng đối tác (phía Việt Nam: nguồn nhân lực, thông tin tài liệu hiện có; kinh nghiệm trong điều tra, đánh giá, quy hoạch tài nguyên nước. Phía Đức: uy tín và kinh nghiệm của chuyên gia trong giải quyết các vấn đề liên quan đến đa ngành, đa lĩnh vực; đặc biệt kinh nghiệm về quản trị dữ liệu không gian và kinh nghiệm quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên, xử lý môi trường và bảo tồn hệ sinh thái); (iii) Học hỏi nắm bắt được công nghệ, kỹ thuật tích hợp các mô hình số với cơ sở dữ liệu GIS; (iv) Tận dụng được cơ sở hạ tầng phân tích thí nghiệm của đối tác Đức để nâng cao độ chính xác của các kết quả phân tích mẫu nước, đất, bảo vệ môi trường; (iii) Tạo tiền đề để mở rộng các hợp tác nghiên cứu trong khuôn khổ viện trợ phát triển ODA của Chính Phủ CHLB Đức cho Việt Nam. Trong đó, hỗ trợ tăng trưởng xanh thông qua các hoạt động bảo vệ môi trường và khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt tài nguyên nước, đang là những ưu tiên hàng đầu các chương trình hợp tác.
Như đã phân tích ở trên, các phần mềm/mô hình số đánh giá biến động tài nguyên (đất, nước) được phát triển một cách độc lập nên khả năng giao tiếp trao đổi dữ liệu kết quả tính toán rất hạn chế. Trong việc đánh giá biến động tài nguyên phục vụ quy hoạch, việc giao tiếp trao đổi dữ liệu này rất quan trọng, đặc biệt là đối tồn hệ sinh thái); (iii) Học hỏi nắm bắt được công nghệ, kỹ thuật tích hợp các mô hình số với cơ sở dữ liệu GIS; (iv) Tận dụng được cơ sở hạ tầng phân tích thí nghiệm của đối tác Đức để nâng cao độ chính xác của các kết quả phân tích mẫu nước, đất, bảo vệ môi trường; (iii) Tạo tiền đề để mở rộng các hợp tác nghiên cứu trong khuôn khổ viện trợ phát triển ODA của Chính Phủ CHLB Đức cho Việt Nam. Trong đó, hỗ trợ tăng trưởng xanh thông qua các hoạt động bảo vệ môi trường và khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt tài nguyên nước, đang là những ưu tiên hàng đầu các chương trình hợp tác.
Như đã phân tích ở trên, các phần mềm/mô hình số đánh giá biến động tài nguyên (đất, nước) được phát triển một cách độc lập nên khả năng giao tiếp trao đổi dữ liệu kết quả tính toán rất hạn chế. Trong việc đánh giá biến động tài nguyên phục vụ quy hoạch, việc giao tiếp trao đổi dữ liệu này rất quan trọng, đặc biệt là đối với các tài nguyên có quan hệ chặt chẽ với nhau. Ví dụ ở 1 thời điểm tính toán, tài nguyên nước mặt có quan hệ thủy lực (ví dụ thấm qua đáy) cung cấp cho nước dưới đất; hay việc thay đổi loại hình sử dụng đất (ví dụ chuyển đổi từ trồng lúa nước sang trồng màu) hay việc giảm khai thác nước mặt và tăng khai thác nước dưới đất ở 1 thời điểm nào đó đều ảnh hưởng đến biến động của các loại tài nguyên này. Vì thế, cần một nền tảng chung (platform) để các phần mềm/mô hình tính toán của từng loại tài nguyên có thể giao
tiếp, chuyền dữ liệu và kết quả tính toán cho nhau. Một nền tảng phần mềm GIS mà phổ biến nhất là ArcGIS (shape file) thường được các hãng phần mềm thường mại lựa chọn để làm trung gian nhập (import) dữ liệu đầu vào và xuất (export) kết quả tính toán đối với các dữ liệu không gian. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ GIS trên nền tảng Internet (gọi tắt là WEBGIS) là nền tảng tuyệt với để chia sẻ, hiển thị, quản lý các dữ liệu không gian từ kết quả tính toán của các mô hình, đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực trong đó có tài nguyên nước và đất.
Disy Informationssysteme GmbH (https://www.disy.net/en/home.html) là một công nghệ dựa trên WEBGIS hàng đầu của CHLB Đức. Dựa trên nền tảng Disy người ta đã phát triển công cụ Cadenza (https://www.disy.net/en/products/cadenza/cadenza gis-en.html) để tạo nên một nền tảng – cơ sở hạ tầng GIS quản lý thống nhất dữ liệu không gian, tích hợp các kết quả từ mạng lưới quan trắc hiện trường, tích hợp kết quả tính toán từ các phần mềm chuyên môn và xuất các thông báo bảng tin theo một khuôn khổ thống nhất. Trong đó, cốt lõi của Cadenza là một nền tảng GIS có thể chạy trên máy tính đơn, trên internet (WEBGIS) và đã tích hợp được các phần mềm tính toán/mô hình số chuyên môn theo từng yêu cầu, mục đích sử dụng cụ thể.
Trong khuôn khổ Dự án Quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam (Harro Stolpe, 2013) đã nghiên cứu phát triển một bộ công cụ trợ giúp ra quyết định và quy hoạch, và bộ công cụ này đẫ được áp dụng thử nghiệm ở phạm vị thượng nguồn lưu vực sông Đồng Nai thuộc địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Bộ công cụ này gồm 3 module chính: (1) tính toán cân bằng nước giữa tiềm năng nguồn và nhu cầu; (2) đánh giá nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do các hoạt động sản xuất; và (3) xếp hạng theo khả năng đáp ứng nguồn nước và nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước để ra quyết định. Nền tảng công nghệ của công cụ này là dựa trên các chức năng của phần mềm ArcGIS để tính toán,
xuất két quả. Mặc dù trọng tâm là Quản lý tổng hợp tài nguyên nước, nghiên cứu của GS Harro Stolpe và các cộng sự đã bước đầu tiếp cận đến vấn đề cốt lõi của Lập quy hoạch tích hợp tài nguyên nước và sử dụng

Newer news items:
Older news items: