Tue02192019

Last update06:09:01 AM GMT

Đánh giá tổng lượng tài nguyên nước Lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng

Để đánh giá tổng lượng tài nguyên nước trên lưu vực sông Bằng Giang  - Kỳ cùng ta cần đánh giá tổng lượng nước dưới đất và nước mặt trên lưu vực; các tiểu lưu vực; các tỉnh thuộc lưu vực và các khu khai thác, sử dụng nước.

Kết quả thực hiện điều tra, đánh giá xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trong các tầng chứa nước trầm tích đệ tứ và neogen vùng Sông Cầu – Tuy Hòa – Đông Hòa

Các tầng chứa nước Đệ tứ và Neogen ở duyên hải miền Trung hầu hết phân bố ở các đồng bằng ven biển. Theo quan niệm địa lý tự nhiên, đồng bằng là vùng đất tương đối bằng phẳng, có thể hơi nghiêng với góc nghiêng nhỏ. Ranh giới giữa các đồng bằng thường được khoanh theo đường viền chân đồi núi, gần như song song với đường phân thủy của các lưu vực sông lớn. Vùng Sông Cầu – Tuy Hòa – Đông Hòa thuộc đồng bằng Phú Yên. Các tầng chứa nước Neogen và Đệ tứ phân bố trên toàn diện tích của vùng. Diện tích điều tra 700km2. Kết quả thực hiện điều tra, đánh giá xác định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước đươi đất các tầng chứa nước đệ tứ và neogen của vùng đã thực hiện:

Nước sạch đến với các vùng sâu Nam Bộ - Việc làm mang ý nghĩa thiết thực

Đồng bào các dân tộc và chiến sĩ ở các vùng sâu, vùng xa Nam Bộ đang hồ hởi với niềm vui được dùng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày-mong nuớc từ bao đời nay của họ đã thành hiện thực.

Nỗ lực trong việc tìm nguồn nước ngọt cho vùng sâu Nam Bộ

Đề án “Điều tra nguồn nước dưới đất vùng sâu Nam Bộ” đã đạt được những kết quả vô cùng có ý nghĩa trong việc mang đến cho nhân dân và bộ đội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng biên giới nước sạch để ăn uống và sinh hoạt, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ an ninh biên giới.

Xây dựng phương án bảo vệ nước dưới đất vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Sông Cửu Long

Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất trũng, chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy triều và lũ sông Mê kông. Mặc dù chương trình thủy lợi thoát lũ ra biển Tây đã cải thiện phần nào điều kiện ngập lũ, song hiện tại vào mùa khô toàn vùng chịu nắng hạn, nước mặn xâm nhập tới 3/4 diện tích, mùa mưa chịu lũ lụt từ 4 - 6 tháng. Chính vì vậy cho đến nay việc khai thác tiềm năng của vùng đất này vẫn còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại.

Đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước vùng duyên hải đồng bằng Bắc Bộ phục vụ Điều tra và quy hoạch tài nguyên nước dưới đất

Đồng bằng Bắc Bộ có tiềm năng nước dưới đất phong phú với trữ lượng khai thác tiềm năng đến 17,19 triệu m3/ngày, trong đó trữ lượng có thể khai thác mà không làm cạn kiệt nguồn nước có thể chiếm một nửa. Theo thống kê đến thời điểm nghiên cứu, các tỉnh và thành phố ở ĐBBB hiện tại mới chỉ khai thác sử dụng khoảng 2,26 triệu m3/ngày, chiểm 13,17% trữ lượng khai thác tiềm năng. Dưới tác động các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, trong đó chủ yếu là tác động do con người gây ra làm cho nước dưới đất có sự biến động sâu sắc với xu hướng xấu đi. Để hạn chế sự suy giảm trữ lượng và ô nhiễm nước dưới đất cần thực hiện một loạt các giải pháp, trong đó giải pháp hàng đầu là khai thác hợp lý, chỗ nào có thể khai thác, ở đâu cấm khai thác và hạn chế khai thác, đồng thời cần tổ chức giám sát chặt chẽ sự biến động tài nguyên nước dưới đất bằng công tác quan trắc động thái lâu dài thường xuyên và bổ sung nhân tạo nước dưới đất một cách kịp thời.