Thu02222018

Last update05:26:18 AM GMT

LVS Hồng – Thái Bình: Các vấn đề trong phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra P1

Trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa và đánh giá nguồn tài liệu thu thập được khi xây dựng và thực hiện dự án Quy hoạch LVS Hồng – Thái Bình, nhóm tác giả thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã chỉ ra các vấn đề trong phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra như sau:

Bảo vệ tài nguyên nước khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình: Những vấn đề cấp bách

Đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình chiếm một diện tích lưu vực lớn trong toàn bộ LVS Hồng – Thái Bình thuộc lãnh thổ Việt Nam. Đây cũng là một trong những vùng phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng về tài nguyên nước như chất lượng nguồn nước, sự xâm nhập mặn, ô nhiễm do sinh hoạt và sản xuất... Đây cũng được xem và vùng có nhu cầu sử dụng và phân bổ nguồn nước lớn nhất trên toàn bộ lưu vực.

Cần có chính sách và biện pháp cụ thể để bảo vệ tài nguyên nước trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình.

LVS Hồng - Thái Bình được giới hạn từ 20023’ đến 25030’ vĩ độ Bắc và từ 1000 đến 107010’ kinh độ Đông: Phía Bắc giáp LVS Kim Sa của Trung Quốc; Phía Tây giáp LVS Mê-kông; Phía Nam giáp LVS Mã; Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ. Phần LVS Hồng - Thái Bình trên lãnh thổ Việt Nam có vị trí địa lý từ: 20023’ đến 23022’ vĩ độ Bắc và từ 102010’ đến 107010’ kinh độ Tây. Lưu vực hệ thống sông Thái Bình nằm trọn trong lãnh thổ nước ta.

Sự suy thoái, ô nhiễm nguồn nước dưới đất trên LVS Hồng – Thái Bình

Mạng lưới quan trắc quốc gia và kiểm soát nước dưới đất ở đồng bằng Bắc Bộ được thiết lập từ năm 1990 và hoàn thiện cơ bản năm 1995 trên diện tích 17.000 km2. Hiện nay có 77 trạm với 140 công trình quan trắc (mỗi trạm có từ 1 đến 3 công trình); 06 tuyến với 49 công trình quan trắc nghiên cứu quan hệ thủy lực giữa nước mặt và NDĐ (sông Hồng, sông Thái Bình và biển); 03 sân cân bằng; 10 trạm quan trắc nước mặt. Tầng chứa nước trong trầm tích Đệ tứ có 133 công trình và tầng chứa nước trước Đệ tứ có 7 công trình. Các công trình quan trắc được phân bố trên địa bàn của 12 tỉnh gồm: Vĩnh Phúc, Hà Tây - Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương và đạt mật độ 80 km2/công trình quan trắc. Trong vùng đồng bằng Bắc bộ, thành phố Hà Nội là nơi đã đầu tư xây dựng mạng lưới chuyên quan trắc động thái NDĐ gồm 67 trạm với 117 công trình. Trong đó, tầng chứa nước Holocen có 47 công trình; tầng chứa nước Pleistocen có 62 công trình; tầng chứa nước Neogen có 3 công trình và nước mặt có 5 công trình.

Sự suy thoái, ô nhiễm nguồn nước mặt trên LVS Hồng – Thái Bình P2

LTS: Lưu vực sông Hồng – Thái Bình là một trong những lưu vực sông lớn của Việt Nam. HIện nay, vấn đề ô nhiễm LVS được đặc biệt quan tâm nhất là nguồn nước mặt. Qua công tác điều tra, đánh giá và khảo sát của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, tài nguyên nước mặt của LVS này đang phải đối mặt với những thách thức không hề nhỏ và cần sự quan tâm cũng như các cấp các ngành từ Trung ương tới địa phương để đảm bảo an ninh nguồn nước, hướng tới phát triển bền vững.

Sự suy thoái, ô nhiễm nguồn nước mặt trên LVS Hồng – Thái Bình P1

LTS: Lưu vực sông Hồng – Thái Bình là một trong những lưu vực sông lớn của Việt Nam. HIện nay, vấn đề ô nhiễm LVS được đặc biệt quan tâm nhất là nguồn nước mặt. Qua công tác điều tra, đánh giá và khảo sát của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, tài nguyên nước mặt của LVS này đang phải đối mặt với những thách thức không hề nhỏ và cần sự quan tâm cũng như các cấp các ngành từ Trung ương tới địa phương để đảm bảo an ninh nguồn nước, hướng tới phát triển bền vững.