Tue02192019

Last update06:09:01 AM GMT

Cân bằng nước ngầm trong tầng chứa nước phun trào bazan tại sân thực nghiệm cân bằng nước Chư Á.

Nhằm mục tiêu là đánh giá hiệu quả của công tác quan trắc tại sân thực nghiệm cân bằng nước Chư Á và đề xuất giải pháp điều chỉnh, bổ sung đối với công tác quan trắc tại sân thực nghiệm cân bằng nước này. Đề tài “Nghiên cứu cân bằng nước ngầm trong tầng chứa nước phun trào bazan vùng Pleiku bằng kết quả quan trắc tại sân thực nghiệm cân bằng nước Chư Á”. Đề tài đã đề ra với một số kết quả chính sau:

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài liệu quan trắc, dự báo tài nguyên nước

Hiện nay công tác đánh giá chất lượng tài liệu quan trắc tài nguyên nước có tầm quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng và đặc biệt trong công tác chủ động phòng tránh thiên tai, giảm nhẹ thiệt hại do nước gây ra. Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đòi hỏi số liệu quan trắc về tài nguyên nước ngày càng cao, không chỉ kịp thời mà còn phải có độ chính xác cao, ít sai xót trong quá trình quan trắc. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng tài liệu quan trắc tài nguyên nước là một việc rất cần thiết và ngày càng được các Cơ quan quản lý tài nguyên nước và các đơn vị sử dụng số liệu ngày càng quan tâm chú ý hơn.

Tiêu chí đánh giá chất lượng dự báo tài nguyên nước dưới đất, phục vụ cảnh báo, dự báo tài nguyên nước dưới đất

Hiện nay công tác dự báo tài nguyên nước nói chung và dư báo tài nguyên nước dưới đất nói riêng có tầm quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng và đặc biệt trong công tác chủ động phòng tránh thiên tai, giảm nhẹ thiệt hại do nước gây ra. Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đòi hỏi số liệu quan trắc và thông tin về dự báo diễn biến tài nguyên nước ngày càng cao, không chỉ phong phú về mặt nội dung mà cả về độ chính xác của bản tin dự báo. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng bản tin dự báo tài nguyên nước dưới đất là một việc rất cần thiết và ngày càng được các Cơ quan quản lý tài nguyên nước và các hộ dùng nước quan tâm chú ý hơn.

Hiện trạng tài nguyên nước vùng núi cao karst Đông Bắc

Vùng núi cao karst Đông Bắc là khu vực phân bố các thành tạo cacbonat có khả năng thấm nước tốt, tuy nhiên do có địa hình cao, phân cắt sâu làm cho khả năng tàng trữ nước kém do bị thoát rất nhanh theo các hệ thống karst ra mạng lưới xâm thực địa phương tạo nên sự khan hiếm nước rất nghiêm trọng, gây khó khăn cho đời sống của nhân dân. Nhiều giải pháp khai thác, sử dụng nước như xây bể, lu chứa nước, hoặc xây dựng nhiều hồ treo chứa nước, xây dựng các công trình nước tự chảy, khảo sát khoan thăm dò khai thác nước dưới đất... Đến nay, các công trình đó đã mang lại những hiệu quả nhất định nhưng tình trạng thiếu nước vẫn xảy ra thường xuyên, nhất là vào mùa khô hạn. Các hồ treo, bể chứa, công trình cấp nước hiện đã xuống cấp hoặc bị cạn kiệt do điều kiện thi công, thời tiết, khí hậu bất thường không đảm bảo cung cấp nước cho đời sống nhân dân và phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

Quy trình xác định khả năng chuyển nước giữa các lưu vực sông

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, các hoạt động liên quan đến phát triển tài nguyên nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ do nhu cầu sử dụng nước của các ngành kinh tế/lĩnh vực/hộ dùng nước không ngừng tăng cao kể cả chất và lượng. Các hoạt động nhằm cung cấp, phân phối nguồn nước cho các nhu cầu sử dụng nước là một trong những yếu tố quan trọng cho sự phát triển của xã hội hiện đại.

Kết quả đề tài:”Nghiên cứu xây dựng các phương pháp dự báo tài nguyên nước dưới đất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ”

Sự phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ, nhiều khu đô thị, khu công nghiệp,.. được mở rộng và phát triển, hạ thấp mực nước dưới đất ngày một tăng ở các khu đô thị, khu công nghiệp. Công tác quản lý tài nguyên nước đòi hỏi công tác dự báo có tính cập nhật, thường xuyên, độ chính xác cao hơn. Xuất phát từ thực tế đó, công tác dự báo tài nguyên nước dưới đất cần được đầu tư để chuyển hóa thông tin đến các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách. Nghiên cứu xây dựng các phương pháp dự báo tài nguyên nước dưới đất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ là một việc làm thiết thực, mang tính ứng dụng cao. Để phục vụ công tác dự báo tài nguyên nước dưới đất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước đã thực hiện đề tài khoa học cấp cơ sở “Nghiên cứu xây dựng các phương pháp dự báo tài nguyên nước dưới đất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ”. Một số kết quả đề tài:
Đề tài đã nêu và phân tích về tổng quan các phương pháp dự báo ở trên thế giới và ở Việt Nam. Trong đó phương pháp xác suất thống kê và phương pháp mô hình được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất.
Đã phân tích rõ những điều kiện hình thành và các nhân tố ảnh hưởng đến nước dưới đất vùng đồng bằng Bắc Bộ. Điều kiện hình thành như: Địa hình, địa mạo, địa chất, địa chất thuỷ văn… Nhân tố ảnh hưởng gồm các nhóm khí tượng - thuỷ văn, hải văn (thuỷ triều), của khai thác nước dưới đất…
Đề tài đã nghiên cứu và lựa chọn phương pháp dự báo tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng Bắc Bộ: dự báo ngắn hạn bằng phương pháp xác xuất thống kê tương quan đơn biến hoặc đa biến và dự báo trung hạn hoặc dài hạn bằng phương pháp mô hình.
Đã áp dụng phương pháp tương quan đơn biến và đa biến dự báo mực nước ngắn hạn 6 tháng đối với một công trình quan trắc nằm trong vùng khí tượng, thủy văn. Kết quả dự báo mực nước 6 tháng theo các nhân tố ảnh hưởng như khí tượng, thủy văn đối với một số điểm quan trắc tương đối chính xác. Tuy nhiên đối với việc áp dụng phương trình tương quan đối với các vùng bị phá hủy do khai thác nước không áp dụng được do số liệu về hiện trạng khai thác không đủ để lập mối tương quan. Do đó, cần phải áp dụng phương pháp mô hình để dự báo đối với khu vực bị phá hủy do khai thác nước.
Đã áp dụng phương pháp mô hình Dự báo mực nước dài hạn cho tỉnh Nam Định đến năm 2020 theo nhu cầu sử dụng nước của tỉnh. Với kịch bản 1 với nhu cầu sử dụng nước từ năm 2010 đến 2020 là 25891m3/ngày và kịch bản 2 với nhu cầu sử dụng nước từ năm 2010 đến 2020 là 32363m3/ngày. Kết quả dự báo theo kịch bản 1 thì độ sâu mực nước tại Q.109a là 14,43m thấp hơn so với mực nước thấp nhất 6 tháng đầu năm 2012 là 2,98m. Kết quả dự báo theo kịch bản 2 thì độ sâu mực nước tạ Q.109a là 15,54m thấp hơn 4,09m so với mực nước thấp nhất 6 tháng đầu năm 2012.

18ht1Kết quả tính cân bằng nước năm 2020 theo kịch bản 1

Dự báo được trữ lượng có thể khai thác được của tỉnh Nam Định với tiêu chí an toàn (tránh tác động tiêu cực xảy ra) mực nước hạ thấp cho phép (Hcp) là 50m. Kết quả cho thấy rằng nếu việc khai thác nước nếu chỉ tập trung vào khu vực như (Q.109a) thì chỉ đáp ứng được với lưu lượng khai thác Q=89.873m3/ngày. Còn nếu việc khai thác phân bổ rộng ở phương án 2 thì lưu lượng khai thác có thể đạt tới 261.203m3/ngày