Sun02282021

Last update05:41:13 AM GMT

Khả năng khai thác, sử dụng nước dưới đất vùng Bắc sông Tiền

Tiền Giang nằm ở hạ lưu sông Cửu Long, có thế mạnh về phát triển nông nghiệp và cây ăn trái. Là tỉnh có bờ biển dài 32 km cùng với diện tích gần 16.000 ha cồn bãi nuôi tôm, cá kết hợp với hệ thống giao thông thủy, bộ thuận lợi, đặc biệt là sự nỗ lực, năng động, sáng tạo trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của bà con ngư dân, của các doanh nghiệp cũng như vai trò quản lý của Nhà nước nên ngành thủy sản đã có những chuyển biến vượt bậc, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của tỉnh. Chính vì thế, một thời gian dài, ngành thủy sản Tiền Giang được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.

26a

 

Mô hình nuôi tôm ở Tiền Giang (nguồn: cổng TTĐT tỉnh Tiền Giang)

Tuy nhiên, hiện nay ngành thủy sản tỉnh nhà đang đứng trước không ít khó khăn, đặc biệt là khó khăn về nguồn nước do đang bị ô nhiễm và cạn kiệt.

Để tăng cường công tác quản lý hoạt động khai thác nước dưới đất, trong đó có việc khai thác, sử dụng nước dưới đất (bao gồm cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn) để phục vụ nuôi trồng thủy sản, phòng ngừa các nguy cơ tiềm ẩn nêu trên, bảo đảm khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long theo tinh thần Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường  đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nêu trên tập trung chỉ đạo việc quản lý, giám sát chặt chẽ các hoạt động khai thác nước dưới đất trên địa bàn, nhất là hoạt động khai thác nước dưới đất để phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Hiện nay, tổng lưu lượng khai thác nước dưới đất năm 2009 trên toàn tỉnh Tiền Giang khoảng 129.114 m3/ngày, số giếng khoan đang khai thác nước dưới đất phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt trong toàn tỉnh là 1.165 giếng bao gồm: công trình cấp nước tập trung đô thị, công trình cấp nước tập trung nông thôn và các công trình khai thác đơn lẻ. Các giếng khoan khai thác chủ yếu ở tầng n22, n21, n13.

Trên phạm vi đô thị có ít nguồn thải gây nguy cơ ô nhiễm cho nước dưới đất, các TCN chính cần bảo vệ nằm khá sâu, bị phủ bởi nhiều TCN nằm trên nên hầu như không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các nguồn  nguồn gây bẩn trên mặt. Do đó, nội dung nghiên cứu ô nhiễm NDĐ từ nguồn thải không thiết kế trong Dự án do các TCN cần bảo vệ ở đô thị phân bố rất sâu.

Về cơ bản, đã sơ bộ khoanh định được các vùng phân bố nước nhạt, nước mặn và chiều sâu phân bố của chúng, lịch sử phát triển ĐCTV, sơ bộ đánh giá được trữ lượng tiềm năng NDĐ trong vùng, làm tiền đề cho công tác thăm dò NDĐ ở vùng Bắc sông Tiền; đã đánh giá trữ lượng khai thác NDĐ cấp công nghiệp (A+B) ở một số khu đã được tiến hành công tác thăm dò NDĐ; đã xác định được xu hướng dao động mực nước theo mùa và theo thời gian và động thái chất lượng NDĐ theo thời gian.

Tuy nhiên, công tác điều tra tài nguyên NDĐ còn đơn lẻ, chưa đáp ứng kịp thời quy hoạch phát triển kinh tế trong vùng Bắc sông Tiền: mức độ điều tra chưa thể làm cơ sở cho công tác tìm kiếm, thăm dò NDĐ để phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất. Công tác điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng nước dưới đất được tiến hành từ nhiều năm trước, chưa cập nhật được các số liệu mới và chưa làm cơ sở để phân vùng khai thác hợp lý phục vụ quản lý, bảo vệ tài nguyên nước dưới đất.

Với những nội dung đó, đề án sẽ làm rõ hiện trạng khai thác nước dưới đất để phục vụ nuôi trồng thủy sản, những vấn đề về hạ thấp mực nước, ô nhiễm, xâm nhập mặn, sụt lún bề mặt đất (nếu có) do khai thác nước dưới đất để nuôi trồng thủy sản gây ra và những đề xuất, kiến nghị của các tỉnh vùng Bắc sông Tiền

Newer news items:
Older news items: