Sun12062020

Last update03:41:21 PM GMT

Cần Thơ – Nước dưới đất có nguy cơ cạn kiệt và xâm nhập mặn

Hiện nay, tình trạng nguồn nước trên thế giới và ở nước ta nói chung và ĐBSCL nói riêng đang ngày càng khan hiếm, bị ô nhiễm là vấn đề đáng báo động. Trước thực trạng trên, TP Cần Thơ đã và đang nỗ lực tìm  giải pháp để quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nước sạch, bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này!

Theo đánh giá của các chuyên gia, ĐBSCL nói chung và TP Cần Thơ nói riêng đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển bền vững. Biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng diễn ra nhanh hơn dự báo, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan. Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, xâm nhập mặn sâu vào nội vùng, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng.

ht5Sông Hậu chảy qua TP. Cần Thơ

Việc khai thác nước dưới đất thiếu quy hoạch, loại hình khai thác không phù hợp, ngoài ra với đặc điểm các tầng chứa nước đều có sự phân bố xen kẽ giữa các vùng nước mặn và nước nhạt theo cả chiều ngang và chiều thẳng đứng đang nảy sinh nhiều nguy cơ như suy giảm về mực nước, gia tăng quá trình xâm nhập mặn nằm ngang và thẳng đứng, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước...

Mặt khác, mức độ nghiên cứu về tài nguyên nước dưới đất còn nhiều hạn chế như: Chưa làm sáng tỏ cấu trúc, sự phân bố, miền cung cấp, vận động và thoát, mối quan hệ thủy lực giữa các tầng chứa nước và nước mặt với nước dưới đất; chưa đánh giá được tiềm năng nước dưới đất, trữ lượng có thể khai thác của các tầng chứa nước; chưa đánh giá được ảnh hưởng của khai thác nước dưới đất tới sự gia tăng xâm nhập mặn, gia tăng ô nhiễm, sụt lún nền đất. Chính vì vậy, việc đánh giá đúng, đầy đủ nguồn nước dưới đất này đồng thời quy hoạch khai thác sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất hợp lý là một đòi hỏi cấp bách, góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên này quý giá này.

Để thực hiện nhiệm vụ đó, đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn –Đô thị Cần Thơ”  đã thực hiện và đạt được những kết quả chính đạt được như sau:

1- Cấu trúc ĐCTV: Đô thị Cần Thơ có 7 tầng chứa nước lỗ hổng là qh, qp3, qp2-3, qp1, n22, n21 và n13; đan xen giữa các tầng chứa nước là các thành tạo rất nghèo nước là Q2, Q13, Q12-3, Q11, N22, N21, N13 và thành tạo không chứa nước MZ. Kết quả nghiên cứu đã xác định được diện phân bố, thành phần thạch học, mức độ giàu nước, phân bố nước nhạt, đặc tính thủy lực, diễn biến mực nước và khả năng khai thác của các tầng chứa nước; ngoài ra xác định được các cửa sổ ĐCTV giữa các tầng chứa nước với nhau dựa vào sự vắng mặt của các lớp cách nước trong cột địa tầng lỗ khoan và xác định được các đoạn sông có quan hệ trực tiếp với nước dưới đất do sự xâm thực của đáy sông vào tầng chứa nước qh tại 2 đoạn dọc sông Hậu.

2- Trữ lượng nước dưới đất: được xác định dưới sự hỗ trợ của mô hình dòng chảy nước dưới đất, kết quả tính toán các loại trữ lượng như sau: tổng tiềm năng tài nguyên nước dưới đất phần nước nhạt là 3.590.542 m3/ngày, tổng tiềm năng tài nguyên nước dưới đất phần nước mặn là 116.523 m3/ngày, tổng trữ lượng có thể khai thác là 1.233.634 m3/ngày.

3- Chất lượng nước dưới đất: được đánh giá theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT cho thấy các tầng chứa nước nhạt (trừ tầng qh) có chất lượng tương đối tốt, có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau, tuy nhiên cần xử lý một số chỉ tiêu vượt QCVN09 phân bố dạng điểm. Ngoài ra ở một số khu vực có mật độ điểm vượt giới hạn cho phép tương đối dày đã được khoanh vùng: vùng ô nhiễm NH4+, NO3- tầng qp2-3 ở quận Cái Răng, TP Cần Thơ và huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang với diện tích 43km2, vùng ô nhiễm NH4+, NO3- tầng n22 ở quận Cái Răng, TP Cần Thơ với diện tích 11km2, vùng ô nhiễm NH4+, NO3- tầng n21 ở quận Cái Răng, TP Cần Thơ với diện tích 2,1km2.

4- Khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước:

Khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước được đánh giá theo phương pháp Drastic (đánh giá tầng chứa nước thứ nhất) và phương pháp Unessco (đánh giá cho tầng chứa nước bị phủ). Kết quả cho thấy:

- Các tầng chứa nước thứ nhất có khả năng tự bảo vệ từ kém đến rất tốt, trong đó phần lớn diện tích có khả năng tự bảo vệ rất tốt;

- Các tầng chứa nước bị phủ có khả năng tự bảo vệ từ rất kém đến tốt dựa vào bề dầy lớp cách nước nằm trên tầng chứa nước và quan hệ mực nước với tầng chứa nước nằm trên.

5- Tác động của việc khai thác nước dưới đất đến các tầng chứa nước:

- Tác động làm suy giảm mực nước dưới đất: Từ các phân tích cho thấy nước dưới đất đô thị Cần Thơ chưa bị cạn kiệt. Tuy nhiên mực nước có xu hướng giảm theo thời gian và các khu vực mực nước tĩnh thấp, tốc độ hạ thấp lớn chính là khu vực tập trung các công trình khai thác nước lớn thuộc một số khu vực như Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Bình thủy, Ô Môn, Long Xuyên, Lai Vung… Các tầng chứa nước n22, n21 và n13 đang khai thác mạnh trong vùng và lân cận, tốc độ hạ thấp mực nước từ 0,70m/năm đến 0,91m/năm.

- Tác động làm gia tăng quá trình ô nhiễm nước dưới đất: kết quả phân tích chất lượng nước dưới đất đã xác định các tầng chứa nước có dấu hiệu ô nhiễm dạng điểm (theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT) các hợp chất Nitơ, nguyên tố vi lượng và vi sinh.

- Nhiễm mặn nước dưới đất: Nguyên nhân chủ yếu do khai thác nước dưới đất quá mức và khai thác gần các ranh mặn nhạt của tầng chứa nước. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy tầng chứa nước qp3 có ranh giới mặn chạy dọc theo bờ sông Hậu đoạn Ô Môn, Bình Thủy, vắt qua phía đông nam huyện Lai Vung. Đây là tầng chứa nước có nhiều giếng khoan khai thác đơn lẻ đang khai thác ở vùng Ô Môn, Bình Thủy. Kết quả điều tra ranh mặn đã dịch chuyển từ khu vực Bình Tân về phía nhạt là khu Bình Thủy (so với tài liệu đã có). Đề án đã tiến hành đánh giá xâm nhập mặn nằm ngang theo mô hình dịch chuyển mặn MT3D và xây dựng bản đồ nguy cơ xâm nhập mặn thẳng đứng cho các tầng chứa nước.

- Tác động làm gia tăng quá trình sụt lún nền đất: Kết quả điều tra chưa khẳng định được hiện tượng sụt lún nền đất do nguyên nhân khai thác nước dưới đất quá mức. Tuy nhiên, theo kết quả tính toán nguy cơ sụt lún nền đất (phương trình Lohman, 1961) đã phân chia đô thị Cần Thơ thành 3 khu vực theo tốc độ sụt lún: khu vực có tốc độ sụt lún <5mm>>7mm/năm.

6- Quy hoạch khai thác, sử dụng nước dưới đất: Phương án lựa chọn là phương án khai thác sử dụng nước dưới đất tận dụng các giếng hiện trạng và bổ sung khai thác đáp ứng nhu cầu điểm dân cư nông thôn. Lưu lượng khai thác dự kiến đến năm 2020 và năm 2030 lần lượt là 145.352m3/ngày và 161.137m3/ngày. Kết quả tính toán phương án lựa chọn bằng mô hình dòng chảy nước dưới đất đã xác định mực nước hạ thấp trong các tầng chứa nước từng kỳ quy hoạch đều nằm trong giới hạn mực nước hạ thấp cho phép.

7- Quy hoạch vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất: Kết quả khoanh vùng cho thấy đô thị Cần Thơ có 58 vùng hạn chế khai thác nước dưới đất chủ yếu tại khu vực dọc theo ranh mặn thuộc các huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Ninh Kiều, Thoại Sơn; khu vực quanh bãi chôn lấp chất thải thuộc huyện Thới Lai và Ô Môn; khu vực đã có mạng cấp nước tập trung tại các quận nội thành, TT Vĩnh Thạnh, TT Thạnh A,. TT Thới Lai, TT Cờ Đỏ; tầng chứa nước hạn chế khai thác là qp3; qp2-3; qp1; n22; n21 và n13.

8- Quy hoạch đới phòng hộ, bảo vệ các công trình khai thác sử dụng NDĐ: Báo cáo đã tính toán, khoanh định đới phòng hộ và bảo vệ cho các tầng chứa nước và từng công trình khai thác trong vùng nghiên cứu, báo cáo cũng đề xuất các giải pháp quản lý và giải pháp kỹ thuật để thực hiện quy hoạch các đới nêu trên nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến NDĐ nói chung và các công trình khai thác nói riêng.

9- Đề xuất mạng lưới quan trắc, giám sát các tầng chứa nước cần bảo vệ: Trên phạm vi toàn đô thị hiện nay có 4 công trình quan trắc thuộc mạng quan trắc quốc gia; 36 công trình thuộc mạng quan trắc địa phương và Đề án đã thi công 10 công trình đưa vào quan trắc. Theo quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên môi trường quốc gia, đô thị được bổ sung thêm 12 công trình nhưng chưa được đầu tư xây dựng. Để hoàn chỉnh mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất đô thị, Đề án đã thiết kế bổ sung 38 công trình quan trắc. Như vậy, mạng lưới quan trắc tài nguyên nước dưới đất đô thị Cần Thơ hoàn chỉnh bao gồm 50 công trình đã có và cần xây dựng bổ sung thêm 50 công trình quan trắc nước dưới đất.

10- Đánh giá khả năng bổ sung nhân tạo cho các tầng chứa nước: Báo cáo đã phân vùng, xác định những khu vực có khả năng bổ cập nhân tạo theo từng tầng chứa nước và phương pháp bổ cập chủ yếu là ép nước lỗ khoan. Lựa chọn khu vực bổ sung nhân tạo: Dự kiến thực hiện tại khu vực xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Tầng chứa nước bổ sung là tầng Plesitocen giữa – trên. Kết quả tính toán cho thấy tổng lượng nước ép trong 6 tháng mùa mưa đạt 113.150m3; Tổng lượng nước có thể khai thác sau khi BSNT vào mùa khô là 50.917m3, tương đương 279m3/ngày.


Newer news items:
Older news items: