Hoàn thiện quản lý tài nguyên nước, liên thông dữ liệu, cảnh báo sớm

Hoàn thiện quản lý tài nguyên nước, liên thông dữ liệu, cảnh báo sớm

Đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện cơ chế quản lý tài nguyên nước, liên thông dữ liệu vận hành liên hồ, nâng cao dự báo và cảnh báo sớm vùng hạ du.

Ngày 13/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Đối với nội dung sửa đổi, bổ sung một điều của Luật Tài nguyên nước, nhiều đại biểu Quốc hội tập trung góp ý về quy định xây dựng, điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực.

Các đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng tăng cường liên thông dữ liệu, nâng cao hiệu quả vận hành liên hồ, dự báo, cảnh báo sớm và phòng ngừa rủi ro, qua đó bảo đảm an toàn cho người dân, sản xuất và môi trường.

Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Ảnh: Quochoi.vn.

Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Ảnh: Quochoi.vn.

Dữ liệu phải được kết nối, chia sẻ và truy vết

Theo đại biểu Trần Mạnh Huy, đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng, hiện có 16 lưu vực sông liên tỉnh phải lập quy hoạch tổng hợp, trong đó 11 lưu vực đã có quy trình vận hành liên hồ chứa.

Qua khảo sát thực tế việc thực hiện Quyết định số 1865/QĐ-TTg của Thủ tướng về Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, đại biểu cho rằng vấn đề không chỉ nằm ở việc từng hồ vận hành như thế nào, mà còn ở khả năng kết nối dữ liệu của cả lưu vực để dự báo tác động tại vùng hạ du.

Theo đại biểu, hiện mỗi nơi có một chuẩn, một cách hiểu khác nhau về thời gian thực; dữ liệu và thông tin chưa được liên thông.

“Chủ hồ có dữ liệu vận hành, cơ quan khí tượng thủy văn có dữ liệu mưa và dự báo, địa phương có dữ liệu phục vụ ứng phó. Điểm nghẽn là các nguồn dữ liệu này chưa được kết nối đủ để hỗ trợ dự báo vận hành và cảnh báo sớm vùng hạ du”, đại biểu Trần Mạnh Huy nói.

Từ đó, đại biểu cho rằng pháp luật cần xây dựng cơ chế liên thông dữ liệu và thông tin giữa hệ thống quản lý tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và phòng chống thiên tai để dữ liệu vận hành liên hồ trở thành đầu vào kịp thời cho dự báo, cảnh báo sớm và ứng phó.

Đại biểu Trần Mạnh Huy đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu Trần Mạnh Huy đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu Trần Mạnh Huy đề nghị khi chỉnh lý khoản 2 Điều 7 dự thảo Luật cần thể hiện rõ ba nội dung.

Thứ nhất, luật hóa nguyên tắc dữ liệu thời gian thực. Dữ liệu phục vụ vận hành liên hồ phải được kết nối đồng bộ, có định danh nguồn, dấu thời gian, cơ chế dự phòng và lưu vết. Luật quy định nguyên tắc, còn Chính phủ quy định chi tiết tiêu chuẩn kỹ thuật, tần suất cập nhật và yêu cầu về hạ tầng dữ liệu.

Thứ hai, luật hóa yêu cầu kết nối dữ liệu phục vụ dự báo tác động vùng hạ du. Đối với các lưu vực có nguy cơ cao, quy trình vận hành liên hồ theo thời gian thực phải bảo đảm khả năng kết nối, khai thác và chia sẻ dữ liệu cần thiết với các hệ thống khí tượng thủy văn, phòng chống thiên tai và các hệ thống dữ liệu liên quan, nhằm dự báo dòng chảy, mô phỏng các kịch bản vận hành và tác động ở vùng hạ du.

Thứ ba, luật hóa trách nhiệm chia sẻ và truy vết thông tin vận hành. Quy trình phải xác định rõ chủ thể cung cấp, chủ thể tiếp nhận, thời điểm chia sẻ và trách nhiệm khi thông tin vận hành sai, chậm hoặc không được cung cấp kịp thời.

Đại biểu Trần Mạnh Huy cũng đề nghị Chính phủ rà soát đồng bộ 11 quy trình vận hành liên hồ hiện nay, bảo đảm thống nhất về kết nối, chia sẻ và truy vết thông tin vận hành.

“Khoản 2 Điều 7 có thể là cơ hội đặt nền móng cho quản trị vận hành liên hồ theo thời gian thực ở quy mô quốc gia. Dữ liệu vận hành không được dừng lại trong từng hồ, từng quy trình mà phải được kết nối kịp thời với hệ thống dự báo, cảnh báo sớm và phòng chống thiên tai”, đại biểu nhấn mạnh.

Theo đại biểu, mỗi lưu vực có thể có quy trình riêng nhưng dữ liệu phải liên thông, thẩm quyền phải rõ và trách nhiệm phải truy vết được. Thước đo cuối cùng không chỉ là hồ có vận hành đúng quy trình hay không, mà là thông tin có đến được với chính quyền và người dân vùng hạ du đủ sớm để hành động hay không.

Không chỉ dữ liệu thời gian thực, phải điều hành theo thời gian thực

Từ thực tiễn địa phương qua các đợt mưa lũ lớn, đại biểu Lý Thị Lan, đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang, cho biết khi nhiều hồ cùng nằm trên một hệ thống sông và đồng thời phải điều tiết xả nước, vấn đề cần quan tâm là cơ chế điều phối vận hành trong thời gian thực, nhất là giữa các hồ thuộc cấp có thẩm quyền quản lý khác nhau.

Đại biểu Lý Thị Lan đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu Lý Thị Lan đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Theo đại biểu, vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực không chỉ là “thời gian thực về dữ liệu” mà cần tiến tới “thời gian thực trong điều hành”.

Dữ liệu của các hồ phải được kết nối, tổng hợp đồng thời để tính toán tác động của toàn bộ chuỗi hồ, từ đó xác định thời điểm, lưu lượng và phương án điều tiết phù hợp với diễn biến dòng chảy cũng như khả năng tiếp nhận của từng khu vực.

Vì vậy, đại biểu Lý Thị Lan đề nghị nghiên cứu bổ sung vào điểm a, khoản 8, Điều 38 dự thảo Luật nguyên tắc theo hướng: việc xây dựng, điều chỉnh và tổ chức thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực phải bảo đảm kết nối, cập nhật đồng bộ dữ liệu của các hồ chứa trong cùng lưu vực; điều phối thống nhất việc vận hành trên cơ sở đánh giá tổng hợp diễn biến dòng chảy và tác động đối với khu vực thượng lưu, hạ lưu; xác định trách nhiệm của cơ quan điều hành, tổ chức quản lý vận hành hồ chứa và địa phương có liên quan khi cần điều chỉnh vận hành giữa các hồ thuộc thẩm quyền quản lý khác nhau.

Các yêu cầu về kỹ thuật, tần suất cập nhật chuẩn dữ liệu, phương thức kết nối và quy trình điều hành cụ thể nên giao Chính phủ quy định.

“Quy định như vậy vừa không làm thay đổi thẩm quyền quản lý hiện hành, vừa làm rõ bản chất của vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực: không chỉ biết được từng hồ đang vận hành thế nào mà phải điều phối được cả hệ thống theo diễn biến thực tế của lưu vực, qua đó giảm thiểu rủi ro cho người dân và các khu vực chịu tác động”, đại biểu Lý Thị Lan nhấn mạnh.

Cần thận trọng với việc chuyển nước ra khỏi lưu vực

 

Qua nghiên cứu, đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc, đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng, đề nghị cân nhắc kỹ hơn việc loại bỏ các quy định hiện hành của Luật Tài nguyên nước về yêu cầu nhà đầu tư và các dự án khi muốn chuyển nước ra khỏi lưu vực sông phải có phương án và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu kiến nghị thiết kế Điều 37 rõ ràng giống như “đèn giao thông”, gồm đèn đỏ, đèn vàng, đèn xanh, để xác định khi nào không thể thực hiện, khi nào có thể thực hiện và khi nào phải có những cân nhắc cũng như sự phê duyệt.

“Trong trường hợp tác động nhỏ (tức là ‘đèn xanh’) thì không nhất thiết phải phê duyệt. Nhưng đối với những trường hợp tác động lớn (‘đèn đỏ’) hoặc thậm chí là ‘đèn vàng’ thì nên có sự phê duyệt của cơ quan quản lý nhà nước”, đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc phân tích.

Theo đại biểu, cách thiết kế này sẽ dung hòa được việc tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh cũng như bảo đảm lợi ích chung.

Là đại biểu sinh sống ở vùng hạ lưu, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi, đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long, cũng đặc biệt quan tâm đến nội dung “chuyển nước lưu vực sông” khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tài nguyên nước.

Dự thảo Luật điều chỉnh theo hướng các dự án chuyển nước có ảnh hưởng lớn phải thông báo đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan trước khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, kèm các điều kiện về phù hợp quy hoạch, biện pháp giảm thiểu tác động và trách nhiệm bồi thường.

Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Lấy dẫn chứng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long rất nhạy cảm với việc suy giảm dòng chảy, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt trong mùa khô, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi đề nghị phải hết sức thận trọng và bảo đảm cơ chế đánh giá tác động chặt chẽ, tham vấn thực chất ý kiến của địa phương và cộng đồng dân cư vùng hạ lưu.

Cùng với đó, đại biểu đề nghị quy định rõ trách nhiệm bồi thường, tránh việc thông báo trở thành hình thức, làm suy yếu khả năng bảo vệ nguồn nước và sinh kế của người dân ở vùng hạ lưu.

Nâng chất lượng dự báo, cảnh báo để giảm thiệt hại

Đối với nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khí tượng thủy văn, đại biểu Phạm Văn Hòa, đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp, đánh giá cao việc Trung ương cũng như các tỉnh hiện nay đã chú trọng thông báo tình hình thời tiết, khí tượng thủy văn để bà con nông dân và ngư dân chủ động phòng ngừa, tránh trú bão lũ.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị tiếp tục quan tâm đầu tư cho trang thiết bị và công nghệ trong lĩnh vực này để nâng cao hiệu quả dự báo, hạn chế thấp nhất thiệt hại.

Đại biểu Phạm Văn Hòa đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu Phạm Văn Hòa đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

“Hiện nay, một số nơi dự báo thời tiết vẫn còn mang tính chung chung. Ví dụ, thông báo trong tỉnh có ‘mưa bão, dông lốc xảy ra nhiều nơi’, nhưng lại không xác định được ‘nhiều nơi’ cụ thể là khu vực nào”, đại biểu Phạm Văn Hòa nói.

Theo đại biểu, trong khi địa bàn tỉnh rất rộng, việc dự báo quá chung chung sẽ không có giá trị cụ thể cho người dân. Dù dự báo chỉ mang tính tương đối, độ chính xác vẫn cần được cải thiện để không ảnh hưởng đến sinh hoạt và đời sống của người dân trong công tác phòng chống thiên tai.

Góp ý Điều 9 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khí tượng thủy văn, đại biểu Đặng Anh Tuấn, đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai, thống nhất với mục tiêu đơn giản hóa thủ tục đối với hoạt động tác động vào thời tiết, nhưng cho rằng việc đơn giản hóa không được làm giảm yêu cầu kiểm soát an toàn và phòng ngừa rủi ro.

Đại biểu Đặng Anh Tuấn đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Đại biểu Đặng Anh Tuấn đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn.

Theo đại biểu, việc chuyển từ cơ chế phê duyệt kế hoạch sang thông báo kế hoạch cần được xem xét về tính an toàn, bởi tác động vào thời tiết là hoạt động có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng, sản xuất, môi trường và phòng chống thiên tai.

Đồng thời, đại biểu đề nghị làm rõ khái niệm “khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp” tại khoản 4 Điều 41 dự thảo Luật, bởi đây là căn cứ để xác định phạm vi lấy ý kiến cộng đồng và thẩm quyền quản lý, nhằm tránh những cách hiểu khác nhau giữa các địa phương khi áp dụng.

Đại biểu Đặng Anh Tuấn cũng đề nghị quy định thời hạn tối thiểu phải thông báo trước khi thực hiện để cơ quan quản lý có đủ thời gian xem xét, phối hợp và cảnh báo khi phát hiện nguy cơ mất an toàn.

Khẩn trương hoàn thiện dự án Luật

Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên cho biết qua thảo luận, hầu hết các ý kiến đều thống nhất về sự cần thiết ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên phát biểu kết luận. Ảnh: Quochoi.vn.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên phát biểu kết luận. Ảnh: Quochoi.vn.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị ngay sau phiên họp, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội phối hợp với Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường khẩn trương tổng hợp và chuyển đến Chính phủ ý kiến của các đại biểu Quốc hội, bao gồm ý kiến tại tổ, tại hội trường và ý kiến bằng văn bản.

Trên cơ sở đó, Chính phủ chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện dự án luật, trình Quốc hội xem xét thông qua vào cuối Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất này.

Khương Trung