Hội thảo “Bộ tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá, phân loại nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt” thuộc nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc”

Hội thảo “Bộ tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá, phân loại nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt” thuộc nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc”

Ngày 06/8/2026, tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã tổ chức Hội thảo “Bộ tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá, phân loại nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt” thuộc nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc”. Hội thảo được tổ chức để trao đổi, thảo luận chuyên môn nhằm rà soát cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý, phương pháp và khả năng áp dụng của dự thảo Bộ tiêu chí trước khi tiếp tục hoàn thiện và triển khai trên phạm vi toàn quốc.

Hội thảo tập trung làm rõ cách tiếp cận đánh giá nguồn nước theo ba trạng thái ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt; rà soát các nhóm chỉ tiêu, ngưỡng nhận diện, yêu cầu dữ liệu và phương pháp tổng hợp; đồng thời xem xét kết quả áp dụng thử nghiệm tại một số lưu vực sông để đánh giá tính phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý tài nguyên nước của Việt Nam.

Đến tham dự hội thảo có đại diện các đơn vị trong Bộ Nông nghiệp và Môi trường bao gồm: Cục Môi trường; Cục Quản lý tài nguyên nước; Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, Môi trường và Biển; Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam; Các chuyên gia về tài nguyên nước, môi trường và các đơn vị trực thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia.

Ông Nguyễn Ngọc Hà - Phó Tổng Giám đốc phát biểu chỉ đạo tại buổi hội thảo

Hội thảo tập trung vào các nội dung chuyên môn trọng tâm gồm: giới thiệu tổng quan nhiệm vụ; trình bày dự thảo Bộ tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá, phân loại nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; đồng thời báo cáo kết quả áp dụng thử nghiệm bộ tiêu chí tại 05 lưu vực sông Hồng, Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Sê San và Cửu Long. Trên cơ sở các kết quả trình bày, các đại biểu, chuyên gia đã trao đổi, thảo luận và đóng góp ý kiến nhằm tiếp tục rà soát, hoàn thiện nội dung và phương pháp áp dụng Bộ tiêu chí.

Quang cảnh Hội thảo

Bộ tiêu chí được đề xuất theo ba nhóm trạng thái nguồn nước

Bộ tiêu chí được xây dựng theo nguyên tắc bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, khả thi, có khả năng áp dụng thống nhất và kế thừa các phương pháp đánh giá đã được sử dụng trong quản lý tài nguyên nước. Báo cáo tham khảo chỉ số chất lượng nước WQI, phương pháp dòng chảy môi trường, đường cong tần suất lưu lượng (FDC), phương pháp Tennant và các chỉ số áp lực tài nguyên nước; đồng thời kết hợp dữ liệu chất lượng nước, thủy văn - dòng chảy, khai thác sử dụng nước và thông tin điều tra thực địa.

Đối với nguồn nước bị ô nhiễm, dự thảo sử dụng nhóm chỉ tiêu định lượng gồm 8 thông số chất lượng nước và chỉ số WQI. Nhóm định tính gồm dấu hiệu trực quan như nước đổi màu, mùi hôi, cá chết, tảo nở hoa, bùn đen; phản hồi của cộng đồng về khả năng sử dụng nước; và thông tin về nguồn thải, hoạt động xả thải, tích tụ bùn đáy ô nhiễm.

Đối với nguồn nước bị suy thoái, dự thảo kết hợp nhóm chỉ tiêu chất lượng nước với chỉ tiêu thủy văn. Các dấu hiệu định tính gồm lòng sông trơ đáy hoặc dòng chảy ngắt quãng, trạm bơm không vận hành, thiếu nước tưới từ hai vụ, giảm sản lượng thủy sản và các biến động do vận hành hồ chứa, chuyển nước liên lưu vực hoặc thiếu hệ thống điều hòa, giám sát khai thác.

Đối với nguồn nước bị cạn kiệt, nhóm chỉ tiêu định lượng gồm: lưu lượng trung bình mùa cạn giảm; lưu lượng tối thiểu Qmin; lưu lượng duy trì sinh thái Qeco; mực nước trung bình mùa cạn; hệ số bất cân bằng dòng chảy mùa lũ - mùa cạn; chỉ số áp lực nguồn nước WSI; tỷ lệ khai thác so với tổng lượng nước mặt và tỷ lệ khai thác trong mùa cạn so với tổng dòng chảy mùa cạn. Nhóm định tính xem xét hiện tượng cạn dòng, cỏ dại xâm nhập lòng dẫn, dòng chảy đứt quãng, giếng ven sông khô cạn, trạm bơm không vận hành và thiếu nước kéo dài.

Về quy trình áp dụng, báo cáo đề xuất đánh giá theo từng đoạn sông và triển khai theo 08 bước, từ phân chia đoạn sông, thu thập và chuẩn hóa dữ liệu, đánh giá độc lập ba trạng thái ô nhiễm - suy thoái - cạn kiệt, tổng hợp kết quả, xác định mức độ ảnh hưởng và mức độ ưu tiên phục hồi, đến lập danh mục và bản đồ phân vùng. Dữ liệu đầu vào được yêu cầu ưu tiên số liệu quan trắc chính thức, kết hợp định lượng và định tính, sử dụng chuỗi số liệu dài, kiểm tra tính đầy đủ, logic, sai số, trùng lặp và độ tin cậy trước khi đánh giá.

Ý kiến chuyên gia tập trung vào tính đại diện của số liệu và đặc thù từng lưu vực

Tại phiên thảo luận, bà Trần Thị Lệ Anh, đại diện Cục Môi trường, đề nghị việc lựa chọn thông số và ngưỡng đánh giá phải bám sát đối tượng, chức năng nguồn nước và các bảng tương ứng của QCVN 08:2023/BTNMT. Với các thủy vực có đặc trưng riêng như hồ chứa, cần cân nhắc thêm các thông số phản ánh phú dưỡng và Chlorophyll-a. Bà cũng lưu ý chuỗi số liệu 05 năm chỉ có ý nghĩa khi tần suất quan trắc đủ đại diện; trường hợp đánh giá, phân loại chất lượng nước theo quy chuẩn cần xem xét tần suất tối thiểu 10 lần/năm và đánh giá theo từng thông số. Đồng thời, cần nghiên cứu kỹ hơn việc sử dụng mức D của QCVN 08:2023/BTNMT làm ngưỡng nhận diện ô nhiễm. Và đề nghị cân nhắc đặt tiêu chí suy thoái trước tiêu chí ô nhiễm do sự suy giảm số lượng nước thường kéo theo suy giảm chất lượng nước trong mùa cạn.

Ông Trần Minh Tuyến, đại diện Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi đề nghị cân nhắc chỉ tiêu ô nhiễm là tiêu chí thứ nhất và suy thoái là tiêu chí thứ hai. Ông Tuyến đồng thời đề nghị rà soát phạm vi các sông, suối thuộc danh mục liên tỉnh và phân biệt rõ sông, suối tự nhiên với hệ thống công trình thủy lợi vì chức năng và mục tiêu quản lý khác nhau.

GS.TS Ngô Lê Long, Trường Đại học Thủy lợi, đề nghị rà soát lại hệ thống thuật ngữ, định nghĩa và cách giải thích các thông số như Hmin, Qmin, Qeco; bổ sung nội dung suy giảm chức năng và khả năng phục hồi vào nhóm tiêu chí suy thoái. Đối với chỉ tiêu lưu lượng mùa cạn, ông cho rằng cần so sánh số liệu mùa cạn với trung bình mùa cạn nhiều năm thay vì trung bình năm. Việc đánh giá cũng cần thực hiện ở quy mô từng đoạn sông để tránh làm mất bản chất không gian của ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; đồng thời không nên áp dụng một ngưỡng mực nước cho mọi lưu vực do sự khác biệt lớn giữa miền núi và đồng bằng.

Ông Thân Văn Đón, đại diện Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc, đề nghị lấy đoạn sông làm đơn vị đánh giá, đồng thời xác định rõ nguồn gây ô nhiễm thông qua thông tin các cơ sở xả thải để gắn kết quả phân loại với giải pháp quản lý, phục hồi; trong trường hợp phù hợp cần cân nhắc tính toán tổng tải lượng thải.

TS. Nguyễn Thanh Thủy, Trường Đại học Thủy lợi, lưu ý đối với lưu vực sông Cửu Long cần xem xét bổ sung chỉ tiêu độ mặn bên cạnh các tiêu chí chung do đặc thù ảnh hưởng triều và xâm nhập mặn.

Một số ý kiến khác tại Hội thảo cũng đề nghị làm rõ cơ sở của phương pháp tổng hợp điểm từ 0 - 100, cách xác định trọng số, các thành phần của chỉ số ưu tiên phục hồi PI và tính nhất quán giữa các ngưỡng nhận diện với kết quả mô hình, đặc biệt đối với các giá trị Q85%, Q95% và lưu lượng mùa kiệt. Đây là những nội dung cần tiếp tục kiểm chứng bằng số liệu thực tế trước khi áp dụng rộng rãi.

Kết luận của Chủ trì Hội thảo

Kết luận Hội thảo, ông Nguyễn Ngọc Hà - Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia - yêu cầu quá trình hoàn thiện bộ tiêu chí phải kế thừa tối đa tài liệu, số liệu hiện có nhưng đồng thời bảo đảm tính khoa học, thực tiễn và khả thi. Bộ tiêu chí cần làm rõ cách áp dụng trong điều kiện đầy đủ dữ liệu theo quy trình chuẩn và trong trường hợp cần đánh giá nhanh, tránh sử dụng một phương pháp duy nhất cho mọi điều kiện dữ liệu.

Đối với các sông, hồ thuộc đối tượng điều tra của nhiệm vụ, bên cạnh khung tiêu chí chung cần nhận diện được đặc thù từng lưu vực, chẳng hạn lưu vực chịu tác động của hồ chứa, đập dâng, thủy điện hoặc lưu vực chịu ảnh hưởng của thủy triều, xâm nhập mặn. Về dữ liệu chất lượng nước, Chủ trì Hội thảo yêu cầu xác định rõ tần suất tối thiểu để đánh giá trong 1 năm; thế nào là đủ điều kiện đánh giá, thiếu dữ liệu hoặc không có dữ liệu và phương pháp thay thế tương ứng. Đối với chuỗi thông tin thủy văn, cần ưu tiên chuỗi đủ dài, đồng thời áp dụng các phương pháp thích hợp để tính toán.

Ông Nguyễn Ngọc Hà đề nghị đơn vị chủ trì là Trung tâm Chất lượng và Bảo vệ tài nguyên nước tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu tối đa các ý kiến và rà soát kết quả áp dụng bộ tiêu chí tại các lưu vực đã trình bày cũng như các lưu vực còn lại. Trung tâm Cảnh báo và Dự báo tài nguyên nước tập trung nguồn lực để rà soát, xây dựng lại và hoàn thiện bộ tiêu chí trên cơ sở kết quả thử nghiệm. Đề nghị các đơn vị thực hiện khác tăng cường trao đổi, phối hợp với đơn vị chủ trì và các cơ quan liên quan.

Các ý kiến tại Hội thảo là cơ sở quan trọng để nhóm thực hiện tiếp tục hiệu chỉnh thuật ngữ, ngưỡng nhận diện, yêu cầu dữ liệu, quy trình phân đoạn và phương pháp tổng hợp, hướng tới xây dựng một bộ tiêu chí vừa thống nhất ở quy mô quốc gia vừa đủ linh hoạt để phản ánh đặc thù từng lưu vực sông. Kết quả hoàn thiện sẽ phục vụ trực tiếp việc phân loại, lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và xác định thứ tự ưu tiên bảo vệ, phục hồi nguồn nước.

Dưới đây là một số hình ảnh tại buổi hội thảo