Giảm ô nhiễm dinh dưỡng từ đất liền, cải thiện chất lượng nước Vịnh Bắc Bộ và thúc đẩy quản lý tổng hợp tài nguyên nước là giải pháp cho lưu vực sông Hồng.
Kiểm soát ô nhiễm nguồn nước từ đất liền ra biển
Những năm gần đây, đô thị hóa, công nghiệp hóa và thâm canh nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, đi kèm với đó là áp lực ngày càng lớn đối với môi trường nước, đặc biệt tại các lưu vực sông và vùng ven biển.
Đáng chú ý, lượng chất dinh dưỡng, chất hữu cơ và các chất ô nhiễm từ đất liền theo hệ thống sông ngòi đổ ra biển liên tục gia tăng, làm suy giảm chất lượng nước tại các cửa sông và khu vực ven biển, trong đó có Vịnh Bắc Bộ.
Chất ô nhiễm từ đất liền theo hệ thống sông ngòi đổ ra biển Vịnh Bắc Bộ liên tục gia tăng. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Sự tích tụ nitơ, phốt pho và các chất hữu cơ trong nước là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng phú dưỡng. Khi hàm lượng dinh dưỡng vượt quá khả năng tự làm sạch, tảo phát triển mạnh, kéo theo nhu cầu oxy sinh hóa tăng cao và làm giảm lượng oxy hòa tan. Tình trạng thiếu oxy này tác động trực tiếp đến hệ sinh thái thủy sinh.
Hệ quả của quá trình này thể hiện rõ nhất tại các khu vực cửa sông, vùng ven biển kín và các khu nuôi trồng thủy sản tập trung, đặc biệt ở Vịnh Bắc Bộ. Khi oxy hòa tan giảm xuống mức thấp, môi trường sống của các loài thủy sinh bị thu hẹp; nhiều loài suy giảm hoặc biến mất, dẫn đến mất cân bằng sinh thái. Không chỉ dừng lại ở khía cạnh môi trường, tình trạng này còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nuôi trồng thủy sản, sinh kế của người dân và an ninh thực phẩm.
Trước thực trạng đó, Dự án “Tăng cường quản lý và tuân thủ thể chế tài nguyên nước nhằm giải quyết tình trạng suy giảm oxy hòa tan do chất dinh dưỡng và các chất ô nhiễm tại Vịnh Bắc Bộ” được xem là giải pháp trọng tâm. Dự án do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua FAO và Cục Quản lý tài nguyên nước là cơ quan chủ trì.
Khác với cách tiếp cận truyền thống, điểm đáng chú ý là dự án không chỉ tập trung xử lý ô nhiễm tại vùng ven biển mà còn tiếp cận theo hướng tổng thể, giải quyết từ gốc bằng cách kiểm soát nguồn thải ngay từ đất liền.
Trọng tâm của dự án là áp dụng quản lý tổng hợp theo lưu vực sông, kết nối từ thượng nguồn đến hạ lưu. Cách tiếp cận này phản ánh đúng thực tế: ô nhiễm phát sinh ở thượng nguồn có thể lan truyền qua nhiều địa phương trước khi ra biển, vì vậy không thể xử lý hiệu quả nếu chỉ tập trung ở khu vực cuối nguồn.
Theo đó, tài nguyên nước được quản lý như một hệ thống thống nhất. Kiểm soát ô nhiễm cần thực hiện trên toàn lưu vực, thay vì chia cắt theo địa giới hành chính. Đây cũng là định hướng phù hợp với Luật Tài nguyên nước năm 2023, trong đó nhấn mạnh quản lý tổng hợp tài nguyên nước gắn với bảo vệ hệ sinh thái.
Dự án sẽ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tích hợp về tài nguyên nước, môi trường và các yếu tố kinh tế - xã hội. Ảnh: Trung Hiếu.
Để hỗ trợ quản lý, dự án sẽ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tích hợp về tài nguyên nước, môi trường và các yếu tố kinh tế - xã hội. Trên nền tảng này, các mô hình mô phỏng lan truyền ô nhiễm sẽ được phát triển nhằm xác định nguồn phát sinh, mức độ tác động và xu hướng biến đổi chất lượng nước.
Việc ứng dụng dữ liệu và mô hình giúp nâng cao năng lực quản lý theo hướng chủ động. Cơ quan chức năng có thể dự báo sớm rủi ro, xây dựng kịch bản ứng phó và phân bổ nguồn lực hiệu quả, thay vì chỉ xử lý khi ô nhiễm đã xảy ra.
Bốn hợp phần hướng tới quản trị nước bền vững
Dự án được triển khai trong 4 năm, bắt đầu từ năm 2026 tại 7 tỉnh, thành phố thuộc lưu vực sông Hồng gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Ninh Bình và Quảng Ninh, với bốn hợp phần chính.
Hợp phần thứ nhất tập trung nâng cao năng lực cho cơ quan quản lý thông qua đào tạo, chia sẻ dữ liệu và tăng cường phối hợp liên ngành, giúp quá trình ra quyết định dựa trên cơ sở khoa học.
Hợp phần thứ hai hướng đến hoàn thiện chính sách và cơ chế tài chính nhằm kiểm soát ô nhiễm dinh dưỡng hiệu quả hơn, đồng thời khuyến khích các bên liên quan chủ động giảm phát thải.
Hợp phần thứ ba triển khai các mô hình thí điểm về quản lý nước, kết hợp phục hồi hệ sinh thái và áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên, tạo cơ sở thực tiễn để nhân rộng.
Hợp phần thứ tư tập trung vào truyền thông và quản lý tri thức, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và tăng cường hợp tác công - tư trong bảo vệ môi trường nước.
Ông Châu Trần Vĩnh, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước khẳng định: Việc triển khai dự án không chỉ nhằm cải thiện chất lượng nước tại Đồng bằng sông Hồng và Vịnh Bắc Bộ mà còn tạo nền tảng cho quản lý tài nguyên nước trong dài hạn.
Thông qua sự kết hợp giữa hoàn thiện thể chế, ứng dụng khoa học công nghệ và tăng cường sự tham gia của cộng đồng, dự án kỳ vọng góp phần giảm thiểu ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Quan trọng hơn, cách tiếp cận quản lý từ lưu vực ra biển sẽ giúp chuyển đổi tư duy từ xử lý ô nhiễm riêng lẻ sang quản trị tổng hợp, chủ động và bền vững. Đây là hướng đi cần thiết để đảm bảo an ninh nguồn nước, đồng thời hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.
"Trong dài hạn, những nỗ lực này không chỉ mang lại lợi ích cho môi trường mà còn góp phần bảo vệ sinh kế của hàng triệu người dân, duy trì đa dạng sinh học và đảm bảo sự phát triển bền vững của các vùng ven biển Việt Nam", ông Vĩnh nhấn mạnh.
Nguyễn Thủy - Trung Hiếu