Lưu vực sông Đồng Nai là một trong các lưu vực sông lớn của Việt Nam, bao gồm 3 tỉnh/TP gồm: Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng và một phần tỉnh Tây Ninh với tổng diện tích lưu vực là 36.350 km2.
Tài nguyên nước mặt: lưu vực sông Đồng Nai có 39 trạm thủy văn, 02 trạm tài nguyên nước, lượng mưa hàng năm trên lưu vực sông khoảng 1.950mm và biến đổi từ nơi thấp là 1.200 - 1.600mm (vùng hạ lưu, lưu vực sông Vàm Cỏ...), lên nơi cao là 2.600 - 2.800mm (trung lưu sông Đồng Nai, một phần thượng lưu sông Bé, thượng lưu sông La Ngà ...), mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tổng lượng nước mặt khoảng 37 tỷ m3.
Tài nguyên nước dưới đất: lưu vực sông Đồng Nai hiện nay có 63 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia xây dựng và đưa vào vận hành. Bao gồm 11 tầng chứa nước chính chia thành hai khu vực Đông Bắc và Tây Nam của lưu vực sông: Khu vực phía Tây Nam gồm 9 tầng: tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh), tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3), trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3), trầm tích Pleistocene dưới (qp1), trầm tích Pliocene giữa (n2 2), trầm tích Pliocene dưới (n2 1) và tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Miocene trên (n1 3), tầng chứa nước khe nứt trong các đá bazan (B/n-q), tầng chứa nước khe nứt trong các đá Kainozoi (ms-ps); khu vực phía Đông Bắc gồm 2 tầng: tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào bazan Pliocen-Pleistocen β(n2-qp). Theo dự án “Biên hội - thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc”, tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước như sau: tầng chứa nước qp3 là 1.754.982m3/ngày, tầng chứa nước qp2-3 là 3.176.253m3/ngày, tầng chứa nước qp1 là 1.594.607m3/ngày, tầng chứa nước n2 2 là 2.459.938m3/ngày, tầng chứa nước n21 là 1.506.949m3/ngày, tầng chứa nước Q là 126.797 m3/ngày, tầng chứa nước β(qp) là 394.952 m3/ngày, tầng chứa nước β(n2-qp) là 5.550.068 m3/ngày..
1. Thông báo tình hình tài nguyên nước mặt
Trong mùa mưa năm 2025, mực nước trung bình trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh tăng 02cm, lưu lượng nước tăng khoảng 11,7% so với mùa mưa năm trước. Tổng lượng nước đến trạm Đại Ninh khoảng 252 triệu m3. Chất lượng nước sông Đa Nhim tương đối xấu, chỉ có tháng 05 và 06 có chất lượng nước tốt, có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, các tháng còn lại trong mùa mưa có chất lượng nước chỉ sử dụng được cho mục đích tưới tiêu, giao thông thủy và các mục đích tương đương khác. Trong mùa mưa năm 2025, mực nước trung bình trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên tăng 15cm, lưu lượng nước có xu hướng tăng khoảng 3,8% so với mùa mưa năm trước. Tổng lượng nước đến trạm Cát Tiên khoảng 3889,2 triệu m3. có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt vào tháng 06 và tháng 10, các tháng còn lại có thể sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác.
2. Thông báo tình hình tài nguyên nước dưới đất
Trong mùa mưa năm 2025 mực nước dưới đất trung bình so với cùng kỳ 1 năm trước có xu thế dâng tại tất cả các tầng chứa nước. Chất lượng nước mùa mưa năm 2025 trên lưu vực sông Đồng Nai hầu hết các chỉ tiêu nằm trong giới hạn cho phép, tuy nhiên có một số chỉ tiêu vượt như Mn, Pb, F- và NH4+.
Sơ đồ diễn biến mực nước mùa mưa năm 2025 so với cùng kỳ 1 năm trước
Dự báo mực nước dưới đất trong mùa khô năm 2025-2026 so với mực nước thực đo cùng kỳ 1 năm trước có xu thế hạ tại hầu hết các tầng chứa nước, riêng tầng chứa nước n1 3 có xu thế dâng. Trên lưu vực sông Đồng Nai thời điểm hiện tại có 3 công trình có độ sâu mực nước trung bình tháng vượt 50% so với mực nước hạ thấp cho phép.
3. Đề xuất, kiến nghị
Đối với tài nguyên nước mặt :Trong mùa mưa năm 2025, tổng lượng nước tại trạm Đại Ninh tăng khoảng 29,7 triệu m3, tại trạm Cát Tiên tăng khoảng 149,3 triệu m3 so với mùa mưa năm trước. Đề nghị các cơ quan, ngành sử dụng nguồn nước mặt có kế hoạch, phương án tích trữ nguồn nước phù hợp để phục vụ việc khai thác, sử dụng trong mùa tới. Chất lượng nước tại trạm Đại Ninh, các thông số Amoni, Nitrate, Nitrit và E.coli có giá trị chất lượng nước vượt ngưỡng GTGH cho phép. Tại trạm Cát Tiên thông số Amoni vượt ngưỡng GTGH cho phép vào đầu và cuối mùa mưa.
Đối với tài nguyên nước dưới đất: Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt quá giới hạn cho phép đặc biệt là tại các khu vực Phường 2 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Nhìn chung, chất lượng nước dưới đất tại các tầng chứa nước trên lưu vực sông Đồng Nai trong mùa mưa năm 2025 đa số nằm trong giới hạn cho phép, tuy nhiên có một số công trình có hàm lượng TDS, Mn, Pb và NH4+ vượt quá GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT, tập trung ở các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh), các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trên (qp3), Pleistocene giữa-trên (qp2 3), Pleistocene dưới (qp1), tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n2 2), tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n2 1) và các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Miocene trên (n1 3).