Giải pháp cấp nước cho vùng cao, vùng khan hiếm nước gắn với chương trình nông thôn mới

 Tình trạng thiếu nước sinh hoạt tại các vùng núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang ngày càng trở nên nghiêm trọng do mùa khô kéo dài, nguồn nước phân bố không đều và hạ tầng cấp nước còn nhiều hạn chế.

Trước yêu cầu bảo đảm an sinh và thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, cần lựa chọn mô hình cấp nước phù hợp với từng địa bàn, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, vận hành công trình nhằm bảo đảm tính bền vững lâu dài.

Thiếu nước sinh hoạt đang là thách thức lớn tại vùng núi cao

Theo báo cáo của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhiều địa phương miền núi hiện đối mặt với tình trạng thiếu nước sinh hoạt cục bộ trong mùa khô. Nguồn nước phân bố không đều, trong khi chất lượng nước tại một số nơi chưa ổn định.

Nhu cầu cấp nước cho các hộ dân phân tán, điểm trường, trạm y tế ngày càng gia tăng, đặc biệt trong thời kỳ nắng hạn kéo dài. Tuy nhiên, việc đầu tư công trình cấp nước tại các khu vực này gặp nhiều khó khăn do địa hình chia cắt, tuyến ống dẫn dài, chênh cao lớn và giao thông khó tiếp cận.

Đối với những nơi có điện lưới, chi phí vận hành vẫn là áp lực lớn; còn tại các khu vực chưa có điện, việc tổ chức vận hành công trình càng phức tạp hơn. Bên cạnh đó, nhiều địa phương còn thiếu nhân lực vận hành, dẫn đến tình trạng công trình xuống cấp nếu không được theo dõi, bảo trì thường xuyên.

Theo yêu cầu của Chương trình nông thôn mới, các mô hình cấp nước phải phù hợp với điều kiện địa bàn, dễ vận hành, chi phí hợp lý và ưu tiên những công trình hoạt động hiệu quả, bền vững. Ngoài ra, việc quản lý, giám sát và điều hành cần dựa trên dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả vận hành.

Đối với khu vực miền Trung – Tây Nguyên, nơi thường xuyên thiếu nước theo mùa, địa hình chia cắt và dân cư phân tán, công trình cấp nước không chỉ đơn thuần là xây dựng hạ tầng mà còn phải gắn với tổ chức quản lý và vận hành dựa trên dữ liệu số.

Nước dưới đất là nguồn chiến lược cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đánh giá, tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nước dưới đất đóng vai trò là nguồn chiến lược trong mùa khô.

Thực tế cho thấy, dân cư tại các khu vực này sống phân tán, địa hình bị chia cắt mạnh khiến việc xây dựng hệ thống cấp nước tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, mùa khô kéo dài làm nhiều sông, suối, hồ chứa suy giảm nghiêm trọng hoặc khô cạn, khiến nhu cầu nước sinh hoạt thiết yếu tăng cao.

Nước dưới đất có ưu điểm ít phụ thuộc vào biến động dòng chảy ngắn hạn và có thể khai thác ổn định nếu lựa chọn đúng vị trí. Nguồn nước này phù hợp với các mô hình trạm cấp nước quy mô nhỏ, cụm dân cư hoặc các điểm công cộng. Ngoài ra, có thể kết hợp khai thác bằng bơm điện lưới hoặc năng lượng mặt trời, giúp vận hành đơn giản và tiết kiệm chi phí.

Với vai trò là đơn vị chuyên môn về điều tra, tìm kiếm và đánh giá nước dưới đất, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia thực hiện khoanh vùng tiềm năng, lựa chọn vị trí tối ưu, đánh giá trữ lượng, chất lượng và tính bền vững của nguồn nước. Trên cơ sở đó, đơn vị đề xuất mô hình trạm cấp nước phù hợp và xây dựng hồ sơ kỹ thuật phục vụ đầu tư.

Quy trình kỹ thuật được đề xuất gồm: Khoanh vùng thiếu nước và điều kiện địa chất thủy văn; khảo sát nhanh, lựa chọn vị trí giếng; áp dụng phương pháp địa vật lý khi cần thiết trước khi khoan thăm dò; thử bơm để đánh giá trữ lượng và chất lượng nước; sau đó thiết kế trạm cấp nước gồm giếng, bơm điện hoặc năng lượng mặt trời, bể chứa, hệ thống xử lý quy mô nhỏ và thiết bị giám sát.

Nếu không đánh giá đầy đủ nước dưới đất, nguy cơ đầu tư công trình cấp nước kém hiệu quả hoặc không thể vận hành trong mùa kiệt là rất lớn.

Hàng triệu người dân có thể được hưởng lợi từ kết quả điều tra nguồn nước

Trong khuôn khổ Dự án điều tra, tìm kiếm nguồn nước tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước, nhiều kết quả quan trọng đã được ghi nhận.

Đến nay, đã có 39/40 tỉnh triển khai thực hiện dự án; 277/286 vùng núi cao, khan hiếm nước được xác định đủ điều kiện khai thác. Tổng lưu lượng khai thác từ các công trình đạt khoảng 145.888 m3/ngày đêm, có khả năng cung cấp nước cho khoảng 1,46 triệu người dân.

Dự án cũng đã triển khai 678 công trình lỗ khoan phục vụ tìm kiếm và khai thác nước dưới đất.

Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, 13 điểm cấp nước khẩn cấp chống hạn, mặn đã được triển khai với tổng công suất xử lý và cấp nước khoảng 4.300 m3/ngày đêm, phục vụ khoảng 72.000 người dân. Trong đó, Tây Nguyên có ba điểm cấp nước gồm Ia Rong, Đăk Trôi và Đăk Tờ Re.

6 nhóm giải pháp cấp nước gắn với chuyển đổi số

Theo khung logic lựa chọn giải pháp cấp nước, việc xây dựng mô hình cần bảo đảm các yếu tố: Lựa chọn đúng nguồn nước, phù hợp điều kiện địa hình, đáp ứng quy mô sử dụng, lựa chọn công nghệ phù hợp và có hệ thống giám sát nhằm vận hành bền vững.

Các nguồn nước được khai thác gồm nước mưa, nước mặt và nước dưới đất.

Đối với nước mưa, giải pháp bao gồm mô hình thu gom hộ gia đình và thu gom tập trung. Nước mặt được khai thác từ sông, suối, hồ chứa, đập dâng hoặc hồ treo. Trong khi đó, nước dưới đất được khai thác thông qua giếng đào, giếng khoan, mạch lộ và hang động.

Trên cơ sở đó, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đề xuất 6 nhóm giải pháp cấp nước kết hợp chuyển đổi số.

Nhóm mô hình 1: Phù hợp hộ phân tán và cụm dân cư nhỏ

Nhóm giải pháp này ưu tiên các mô hình đơn giản, dễ nhân rộng và thuận lợi cho cộng đồng cùng quản lý.

Giải pháp thu gom nước mưa phù hợp với hộ dân phân tán, điểm trường, trạm y tế hoặc nơi khó kéo tuyến ống. Hệ thống gồm mái thu nước, bộ lọc rác đầu vào, thiết bị tách nước đầu mùa và bể chứa. Mô hình có ưu điểm dễ vận hành, linh hoạt và dễ nhân rộng. Các ứng dụng chuyển đổi số gồm cảm biến mực nước, cảnh báo cạn nước, mã QR hướng dẫn vệ sinh bể và nhật ký sử dụng.

Mô hình cấp nước tự chảy phù hợp với khu vực có chênh cao tự nhiên, nguồn nước tương đối ổn định và các cụm dân cư gần nhau. Hệ thống gồm họng thu, bể lắng, bể chứa, tuyến ống, bể giảm áp và van khóa. Việc giám sát được thực hiện thông qua thiết bị đo mực nước bể, lưu lượng, áp lực và cảnh báo rò rỉ hoặc suy giảm lưu lượng.

Trong khi đó, mô hình bể chứa hộ gia đình được áp dụng cho các hộ cần giải pháp tích trữ nước linh hoạt. Bể có thể làm bằng HDPE, composite hoặc bê tông và kết nối với nguồn nước mưa hoặc nguồn bổ sung khác. Hệ thống giám sát bao gồm thiết bị theo dõi mực nước, nhắc lịch vệ sinh và nhật ký bảo trì.

Nhóm mô hình 2: Nguồn nước tại chỗ, giếng khoan và công trình quy mô nhỏ

Nhóm giải pháp này kết hợp hạ tầng cấp nước phù hợp với các giải pháp quan trắc và giám sát.

Mô hình cấp nước phân tán phù hợp với cụm dân cư nhỏ, có tuyến ống ngắn và nhu cầu sử dụng không quá lớn. Hệ thống gồm nguồn nước tại chỗ, bơm nhỏ, bể chứa, mạng ống ngắn và van phân khu. Công trình được giám sát thông qua đồng hồ tổng, trạng thái bơm, mực nước bể và cảnh báo sự cố từ xa.

Giải pháp giếng khoan kết hợp bơm điện được áp dụng tại vùng khan hiếm nước mặt nhưng có tiềm năng nước dưới đất. Công trình sử dụng giếng khoan, bơm điện chạy bằng điện lưới hoặc năng lượng mặt trời, kết hợp bể chứa hoặc bể cao. Hệ thống giám sát theo dõi mực nước giếng, lưu lượng khai thác, điện năng tiêu thụ, trạng thái bơm và cảnh báo suy giảm nguồn nước.

Ngoài ra, mô hình xử lý nước quy mô nhỏ phù hợp với trường học, trạm y tế hoặc cụm dân cư cần xử lý chất lượng nước. Hệ thống gồm module lắng, lọc, khử trùng nhỏ gọn, bể nước sạch và các thiết bị phổ thông dễ sử dụng. Các chỉ số được theo dõi gồm độ đục, chlorine, lưu lượng và nhật ký bảo trì.

Đối với các công trình giếng khoan cần khảo sát kỹ lưu lượng, chất lượng và tính bền vững của nguồn nước dưới đất trước khi đầu tư.

Nhóm mô hình 3: Đa nguồn kết hợp giám sát trực tuyến

Đây là nhóm mô hình ưu tiên tại các khu vực có điện lưới, nhằm khai thác linh hoạt nhiều nguồn nước theo mùa và nâng cao hiệu quả quản lý vận hành bằng dữ liệu số.

Nguồn cấp nước có thể kết hợp giữa nước mặt từ suối hoặc hồ nhỏ, nguồn tự chảy, nước dưới đất từ giếng khoan sau khảo sát, cùng với nước mưa hoặc bể dự phòng mùa khô.

Hệ thống gồm module xử lý nhỏ gọn, bể chứa, bể cao, van điều khiển và tủ chuyển nguồn thủ công hoặc bán tự động. Các thiết bị được lựa chọn theo hướng phổ thông, dễ sửa chữa tại địa phương.

Mô hình này phù hợp với trung tâm xã hoặc cụm dân cư có điện lưới, nhu cầu sử dụng nước tương đối ổn định và cần linh hoạt giữa nguồn chính với nguồn dự phòng. Đặc biệt, mô hình thích hợp cho các khu vực khan hiếm nước mặt nhưng có tiềm năng khai thác nước dưới đất.

Hệ thống giám sát cho phép theo dõi mực nước, lưu lượng, áp lực, điện năng và các chỉ tiêu chất lượng nước cơ bản. Dữ liệu được truyền qua 4G, LoRa hoặc WiFi tới dashboard web hoặc ứng dụng di động, đồng thời hỗ trợ cảnh báo sự cố và phân công vận hành, bảo trì.

Đây là mô hình được đánh giá có giá trị quản lý cao vì vừa bảo đảm cấp nước, vừa tạo dữ liệu phục vụ điều hành và ra quyết định.

Miền Trung – Tây Nguyên ưu tiên các mô hình linh hoạt, đa nguồn

Đối với khu vực miền Trung – Tây Nguyên, Trung, đề xuất 4 nhóm mô hình ưu tiên.

Trong đó, giải pháp nước mưa được ưu tiên cho hộ dân phân tán, điểm trường và trạm y tế, có thể sử dụng như nguồn chính hoặc nguồn dự phòng mùa khô.

Mô hình tự chảy kết hợp bể giảm áp phù hợp với khu vực có chênh cao tự nhiên và nguồn nước tương đối ổn định.

Giải pháp đa nguồn kết hợp giám sát trực tuyến được ưu tiên cho trung tâm xã hoặc cụm dân cư có điện lưới nhằm chuyển đổi nguồn nước linh hoạt và tăng cường giám sát dữ liệu.

Trong khi đó, mô hình giếng khoan hoặc cấp nước phân tán kết hợp xử lý quy mô nhỏ được áp dụng tại vùng khan hiếm nước và cụm dân cư nhỏ, sử dụng bơm điện mặt trời hoặc điện lưới.

Đối với vùng khan hiếm nước, cần khảo sát kỹ nguồn nước dưới đất về lưu lượng, chất lượng và tính bền vững trước khi lựa chọn mô hình đầu tư.

Đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu và lựa chọn địa bàn ưu tiên

Trong thời gian tới, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đặt mục tiêu kịp thời bố trí nguồn lực cho giai đoạn năm 2026 và lồng ghép hiệu quả Nội dung 10 của Chương trình nông thôn mới.

Theo đó, Trung tâm sẽ không khảo sát toàn bộ địa bàn mà tập trung lựa chọn các điểm đại diện, điểm nóng và khu vực cần kiểm chứng.

Các khu vực ưu tiên gồm nơi thiếu nước nghiêm trọng, khan hiếm nguồn nước; công trình cấp nước vận hành kém; địa bàn cần làm rõ nguồn nước trước khi đầu tư; khu vực có nguy cơ hạn hán, xâm nhập mặn hoặc ô nhiễm.

Kế hoạch triển khai gồm nhiều bước như chuẩn hóa biểu mẫu và hướng dẫn thu thập dữ liệu; tiếp nhận thông tin ban đầu từ địa phương; rà soát dữ liệu, bản đồ và hồ sơ hiện có; khảo sát kiểm chứng nhanh tại khu vực ưu tiên; đánh giá nguồn nước mặt, nước dưới đất và nước mưa; rà soát công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn; chuẩn hóa dữ liệu Excel/GIS và xây dựng cơ sở dữ liệu trực tuyến; lựa chọn mô hình cấp nước phù hợp; đồng thời đề xuất địa bàn ưu tiên đầu tư và khảo sát bổ sung.

Nguồn:https://moitruong.net.vn/