Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Srê Pốk được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về dự báo tổng lượng nước nội sinh, cảnh báo nguồn nước tại các vùng dự báo; mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.
Lưu vực sông Srê Pốk là một trong những lưu vực sông lớn thuộc 3 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng với tổng diện tích lưu vực là 18.230 km2. Trên lưu vực sông Srê Pốk có 10 vị trí dự báo tổng lượng nước nội sinh tại 10 tiểu vùng dự báo.
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Mực nước trung bình tháng 7 năm 2026 trên sông Ea Krông Nô tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên là 48712cm, tăng 15cm so với tháng trước, giảm 10cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 12cm so với tháng 7 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 48755cm (ngày 26/7/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 48674cm (ngày 01/7/2026).
Bảng 2. Kết quả quan trắc tài nguyên nước tháng 7 năm 2026
|
Trạm |
Yếu tố |
TBNN |
TB tháng trước |
Tháng 7 |
Tăng/giảm (-) % |
|
|
So với TBNN |
So với tháng trước |
|||||
|
Đức Xuyên |
Mực nước (cm) |
48724 |
48697 |
48712 |
-0,02 |
0,031 |
|
Lưu lượng nước (m3/s) |
42,6 |
25,6 |
29,0 |
-31,9 |
13,2 |
|
|
Tổng lượng nước (triệu m3) |
95,7 |
64,2 |
72,7 |
-24,0 |
13,2 |
|
2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng, có 2/2 công trình mực nước dâng. Giá trị dâng cao nhất là 0,17m tại xã Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk (LK51T).
Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 7 tầng q
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng, có 8/10 công trình mực nước dâng, 1/10 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/10 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 6,68m tại xã Ea Khăl, tỉnh Đắk Lắk (LK29T) và một công trình có mực nước hạ là 0,7m tại xã Cuôr Đăng, tỉnh Đắk Lắk (CB1-II).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng, có 14/24 công trình mực nước dâng, 6/24 công trình mực nước hạ và 4/24 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 3,96m tại xã Đắk Mil, tỉnh Lâm Đồng (LK41T) và giá trị hạ thấp nhất là 1,24m tại xã Ea Ktur, tỉnh Đắk Lắk (LK73T).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK52T thuộc xã Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 7 hạ 0,08m so với tháng 6.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Jura dưới - giữa (j1-2): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng, có 4/6 công trình mực nước dâng, 1/6 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/6 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 2,25m tại xã Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk (LK28T) và một công trình có mực nước hạ là 0,8m tại xã Ea Phê, tỉnh Đắk Lắk (C8o).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei- Sialua (ar-s): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK53T thuộc xã Ea Knốp, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 7 dâng 0,1m so với tháng 6.
Tầng chứa nước khe nứt trong đá magma xâm nhập (g): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK68T thuộc xã Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 7 dâng 0,3m so với tháng 6.
3. Đề xuất, kiến nghị
Đối với nước mặt
Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên trong tháng 7 năm 2026 khoảng 72,7 triệu m3, tăng khoảng 8,5 triệu m3 so với tháng trước.
Theo QCVN 08:2023/BTNMT, tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên trên sông Ea Krông Nô có chất lượng nước tốt, thuộc cột A. Riêng thông số Tổng Coliform có thuộc cột D. Cần có biện pháp để duy trì chất lượng nguồn nước và có biện pháp cải thiện với thông số chưa được tốt, đáp ứng được nhu cầu khai thác sử dụng nước.
Tổng lượng tài nguyên nước nội sinh từ mưa trên các vùng quy hoạch thuộc LVS Srê Pốk trong tháng 8 năm 2026 vào khoảng 2312,2 – 2571,0 triệu m3, trong đó cao nhất tại vùng Thượng Ea Krông Nô có tổng lượng dự báo dao động trong khoảng 437,9 – 486,5 triệu m3, thấp nhất tại vùng Hạ Ea H'leo có tổng lượng dự báo dao động trong khoảng 76,7 – 89,6 triệu m3. Kết quả tính toán cân bằng nguồn nước trên lưu vực sông Srê Pốk cho thấy, trong tháng 8 năm 2026, lưu vực không xảy ra tình trạng thiếu nước, cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước.
Trước tình hình nắng nóng gay gắt kéo dài trong năm 2026 tại khu vực Cao Nguyên Trung Bộ, chính quyền địa phương, người dân và các bên liên quan cần có kế hoạch sử dụng nguồn nước tiết kiệm, hài hòa và hợp lý để giảm thiểu nguy cơ cạn kiệt nguồn nước.
Đối với nước dưới đất
Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk; xã Đức Cơ, tỉnh Gia Lai; xã Cư Jút, tỉnh Lâm Đồng.
Đa số các thông số chất lượng nước trên lưu vực sông nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, β(qp), β(n2-qp), n, j1-2, ar-s, g. Các thông số vượt bao gồm pH, Tổng Coliform, Sắt, Mangan, Amoni.