Dự thảo Quy trình vận hành liên hồ chứa sông Trà Khúc hướng đến điều hành linh hoạt hơn, tăng khả năng đón lũ, giữ nước mùa cạn và làm rõ trách nhiệm địa phương.
Sáng 14/8, tại Hà Nội, Cục Quản lý tài nguyên nước tổ chức cuộc họp tham vấn dự thảo Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Trà Khúc.
Cục trưởng Châu Trần Vĩnh chủ trì cuộc họp với sự tham gia của đại diện các cơ quan, địa phương và đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Vận hành theo dòng lũ thực tế để tăng hiệu quả phòng, chống lũ
Sau gần 8 năm thực hiện Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Trà Khúc ban hành kèm theo Quyết định số 911/QĐ-TTg, diễn biến lũ, hạn hán ngày càng khó lường đang đặt ra yêu cầu thay đổi cách điều hành. Lũ có thể đến sớm, kết thúc muộn hoặc xuất hiện liên tiếp; trong khi mùa cạn kéo dài làm gia tăng sức ép cấp nước. Vấn đề không chỉ là tích hay xả bao nhiêu nước, mà còn phải ra quyết định đúng thời điểm, dựa trên dữ liệu thực tế và xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể.
Theo đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia - đơn vị tư vấn xây dựng dự thảo Quy trình, dự thảo Quy trình vận hành liên hồ lưu vực sông Trà Khúc đề xuất kéo dài mùa lũ đến 31/12, thay vì 15/12, do lũ lớn vẫn có thể xảy ra cuối năm.
Mùa lũ được chia thành 3 thời kỳ: lũ sớm (1/9-30/9), lũ chính vụ (1/10-4/12) và lũ muộn (5/12-31/12). Phạm vi điều phối cũng mở rộng từ 5 lên 11 hồ chứa và 2 đập dâng, hướng tới vận hành đồng bộ toàn hệ thống.
Đập dâng trên sông Trà Khúc nối đôi bờ sông. Ảnh: Lê Danh.
Với hai hồ Đakđrinh và Nước Trong, dự thảo cho phép hạ mực nước đón lũ linh hoạt, tạo thêm khoảng 7,77-15,54 triệu m³ dung tích phòng lũ. Tuy nhiên, việc hạ nước phải cân đối với khả năng tích nước cho mùa cạn; trong tình huống đặc biệt, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi có thể quyết định hạ thấp hơn mức tối thiểu để tăng khả năng đón lũ.
Một thay đổi quan trọng khác là bổ sung lưu lượng nước về hồ làm tín hiệu vận hành, thay vì chỉ dựa vào mực nước hạ du và dự báo mưa. Khi lưu lượng về Nước Trong vượt 500 m³/s, Đakđrinh vượt 400 m³/s, các hồ bắt đầu giảm lũ; khi lần lượt vượt 1.000 m³/s và 800 m³/s, chuyển sang cắt lũ.
Đồng thời, trạm Sơn Giang mới được đề xuất thay dần trạm Trà Khúc làm tín hiệu chính, giúp phản ánh sát hơn diễn biến dòng lũ tự nhiên và nâng tính chủ động trong vận hành.
Giữ nước mùa cạn
Nếu mùa lũ cần dung tích trống thì mùa cạn lại đòi hỏi giữ đủ nước cho hạ du. Dù lưu vực đã được bổ sung nước từ sông Sê San qua Nhà máy thủy điện Thượng Kon Tum, Đakđrinh và Nước Trong vẫn có nguy cơ không tích đủ nước trong năm hạn hán. Dự thảo vì thế đề xuất giảm 2 m³/s lưu lượng xả tối thiểu của Đakđrinh trong thời kỳ nhu cầu sử dụng nước bình thường; phần giảm được tính toán bù từ dòng chảy Đăk Lô để giữ nước cho giai đoạn nhu cầu tăng cao.
Tiết kiệm nước không đồng nghĩa với cắt giảm dòng xả theo lịch hành chính. Sau góp ý của địa phương và đơn vị thủy lợi, cơ quan soạn thảo đã bỏ đề xuất giảm đến 50% thời gian và lưu lượng xả vào cuối tuần, ngày lễ, Tết. Việc xả nước phải căn cứ nhu cầu thực tế của hạ du, trước hết là sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và các nhu cầu thiết yếu.
Dự thảo đồng thời cho phép tích nước sớm vào cuối mùa lũ. Khi dự báo có nguy cơ hạn hán, thiếu nước hoặc hồ không thể tích đủ nước cho năm sau, chủ hồ được lập phương án, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi xem xét, quyết định. Cơ chế này tạo khoảng linh hoạt cần thiết để cân bằng giữa phòng lũ, cấp nước và phát điện, thay vì tuyệt đối hóa một mục tiêu riêng lẻ.
Vai trò của địa phương cũng được nâng lên rõ rệt. Khi lũ lớn đe dọa tính mạng, tài sản của người dân hoặc hạ tầng thiết yếu, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi được quyết định sử dụng dung tích từ mực nước dâng bình thường đến mực nước lớn nhất thiết kế để tham gia giảm lũ, với điều kiện bảo đảm an toàn đập. Chủ tịch UBND tỉnh đồng thời quyết định phương án tích nước cuối mùa và chủ trì điều chỉnh vận hành trong mùa cạn.
Đi cùng thẩm quyền là trách nhiệm cập nhật phương án ứng phó thiên tai, xây dựng bản đồ ngập lụt hạ du, kiểm soát hành lang thoát lũ và tổ chức hệ thống hỗ trợ ra quyết định. Khi tình huống vượt khả năng địa phương, Chủ tịch UBND tỉnh phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Trưởng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia xem xét, quyết định.
Đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi góp ý tại cuộc họp. Ảnh: Lê Khánh.
Góp ý vào dự thảo, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi cùng các đơn vị khai thác công trình thủy lợi đề nghị rà soát các mực nước, ngưỡng vận hành; chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực và xây dựng quy chế phối hợp để tránh cộng hưởng dòng xả. Đề xuất nâng mực nước đón lũ thấp nhất của hồ Nước Trong trong thời kỳ lũ sớm từ 114,5 m lên 115,5 m đã được tiếp thu.
Công ty Cổ phần Thủy điện Đakđrinh đề nghị tính toán để hồ có khả năng tích đầy đến cao trình 410 m vào ngày 31/12, tránh thiếu nước mùa cạn nếu dự báo cuối mùa không chính xác. Về phối hợp xả, dự thảo quy định Đakđrinh vận hành không ít hơn 12 giờ; Nước Trong xả liên tục ngay sau đó và bảo đảm tổng lượng nước xuống hạ du trong ngày.
Đại diện Công ty Cổ phần Thủy điện Đakđrinh phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Các ý kiến cho thấy tính linh hoạt chỉ có ý nghĩa khi đi kèm giới hạn an toàn, dữ liệu tin cậy và trách nhiệm rõ ràng. Quy trình liên hồ không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro thiên tai, cũng không thể tối ưu lợi ích riêng của từng hồ. Mục tiêu cao nhất phải là giảm rủi ro cho toàn lưu vực, bảo vệ tính mạng người dân và duy trì nguồn nước thiết yếu cho hạ du.
Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh nhấn mạnh, lưu vực sông Trà Khúc có đặc thù riêng, vì vậy Quy trình vận hành liên hồ cần linh hoạt, hài hòa giữa phòng, chống lũ và bảo đảm nguồn nước.
Theo ông Vĩnh, bên cạnh nhiệm vụ cấp nước cho nông nghiệp và sinh hoạt, một vấn đề đặc biệt cần lưu ý là bảo đảm nguồn nước cho Khu kinh tế Dung Quất và các hoạt động công nghiệp, công nghệ cao trên lưu vực. Do đó, phương án vận hành cần tính toán đầy đủ nhu cầu nước cho công nghiệp, nhất là các công trình cấp nước lớn như hồ Nước Trong, đập Thạch Nham và hệ thống cấp nước phục vụ sản xuất. Mục tiêu là bảo đảm hài hòa giữa phòng, chống lũ, cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và an sinh xã hội.
Ông Vĩnh cũng lưu ý, lưu vực sông Trà Khúc có khả năng điều tiết, cắt giảm lũ hạn chế. Vì vậy, trong tờ trình và báo cáo trình cấp có thẩm quyền, đơn vị tư vấn cần lượng hóa cụ thể hiệu quả của từng phương án: dành bao nhiêu dung tích phòng lũ có thể giảm bao nhiêu phần trăm đỉnh lũ, so sánh với các trận lũ lịch sử và đánh giá những tác động đi kèm.
“Không thể chỉ nói giảm được 30% hay 10% mà phải có con số tính toán cụ thể, để thấy rõ phương án này được gì, mất gì và phương án kia tác động ra sao”, ông Vĩnh nhấn mạnh.
Ông Vĩnh cho rằng, điểm cốt lõi của Quy trình mới không chỉ là điều chỉnh cao trình, ngưỡng lưu lượng, mà phải thiết lập cơ chế ra quyết định sớm, phối hợp thống nhất và phân định rõ trách nhiệm, nhất là vai trò của địa phương.
Khi dự báo, dữ liệu vận hành thời gian thực và phương án ứng phó được kết nối đồng bộ, vận hành hồ chứa sẽ chuyển từ xử lý tình huống sang chủ động quản trị rủi ro trên toàn lưu vực, nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản người dân, đồng thời hài hòa phòng, chống lũ, cấp nước mùa cạn và phát điện.
Nguyễn Thủy - Lê Khánh