Pháp luật đã đặt yêu cầu cao hơn trong kiểm soát, tuần hoàn, tái sử dụng nước thải, nhưng cơ chế tài chính chưa theo kịp, khiến nhiều hệ thống khó vận hành hiệu quả.
Khung pháp lý đã mở, cơ chế tài chính chưa theo kịp
Nước thải đang trở thành một trong những điểm nghẽn lớn của quá trình phát triển đô thị và bảo vệ tài nguyên nước tại Việt Nam.
Phần lớn nước thải sinh hoạt vẫn chưa được xử lý đầy đủ trước khi thải ra môi trường. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Theo số liệu của Đoàn giám sát của Quốc hội năm 2025, tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom, xử lý mới đạt khoảng 18%; điều đó đồng nghĩa phần lớn nước thải sinh hoạt vẫn chưa được xử lý đầy đủ trước khi thải ra môi trường. Đây không chỉ là câu chuyện thiếu nhà máy xử lý, mà còn phản ánh những hạn chế kéo dài về mạng lưới thu gom, cơ chế vận hành và nguồn tài chính cho dịch vụ nước thải.
Về thể chế, Luật Tài nguyên nước 2023, bổ sung một phần, đã tạo ra bước chuyển quan trọng trong quản lý nước thải. Luật không chỉ tiếp cận nước thải như một nguồn gây ô nhiễm cần kiểm soát, mà còn đặt nước thải trong mối quan hệ tổng thể với chức năng, khả năng chịu tải và yêu cầu phục hồi của nguồn nước.
Theo Điều 8 của Luật, hành vi xả nước thải vào nguồn nước dưới đất bị nghiêm cấm; nước thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường không được xả vào nguồn nước mặt, nước biển. Hay tại Điều 22 quy định chức năng nguồn nước là một trong những căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét việc chấp thuận, phê duyệt, cấp phép đối với dự án có hoạt động xả nước thải. Nước thải xả vào nguồn nước mặt phải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường phù hợp với chức năng của nguồn nước và tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường.
Đặc biệt, Điều 59 yêu cầu dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có khai thác, sử dụng nước và xả nước thải tại khu vực có nguồn nước mặt không còn khả năng chịu tải phải áp dụng giải pháp sử dụng nước tuần hoàn, tái sử dụng nước hoặc có phương án xử lý nước thải đáp ứng yêu cầu về chất lượng nguồn tiếp nhận trước khi xả thải.
Luật Tài nguyên nước 2023 đã tạo ra bước chuyển quan trọng trong quản lý nước thải. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Đáng chú ý, Luật đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tính toán giải pháp tuần hoàn, tái sử dụng nước ngay từ giai đoạn xây dựng dự án; các tổ chức, cá nhân đầu tư công nghệ tiết kiệm nước, tuần hoàn và tái sử dụng nước được hưởng ưu đãi theo quy định.
Những quy định này thể hiện sự thay đổi rõ rệt trong tư duy quản lý. Việc kiểm soát ô nhiễm không thể chỉ dừng ở chỗ từng cơ sở có nước thải “đạt quy chuẩn” tại điểm xả. Nếu tổng tải lượng ô nhiễm từ nhiều nguồn thải vượt quá khả năng tiếp nhận của dòng sông, nguồn nước vẫn có thể tiếp tục suy thoái. Vì vậy, quản lý nước thải phải gắn với tải lượng ô nhiễm, chức năng và sức chịu tải của từng nguồn tiếp nhận; đồng thời coi tuần hoàn, tái sử dụng nước là một giải pháp giảm áp lực lên cả nguồn cấp và nguồn tiếp nhận.
Giá dịch vụ thấp, bài toán nước thải khó tìm lời giải
Tuy nhiên, khoảng cách giữa yêu cầu pháp luật và điều kiện thực hiện trên thực tế vẫn còn rất lớn. Điểm nghẽn nổi bật nhất hiện nay nằm ở cơ chế tài chính. Theo TS.Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, xử lý nước thải là dịch vụ có chi phí cao, bao gồm đầu tư mạng lưới thu gom, trạm bơm, nhà máy xử lý, điện năng, hóa chất, nhân lực, quan trắc, xử lý bùn thải, sửa chữa và khấu hao công trình.
Theo các tính toán được đề cập, chi phí xử lý nước thải sinh hoạt có thể ở mức khoảng 12.000-13.000 đồng/m³, thậm chí cao hơn giá một mét khối nước sạch trong một số trường hợp.
Trong khi đó, TS Tùng lưu ý, cần phân biệt rõ giữa “phí bảo vệ môi trường đối với nước thải” và “giá dịch vụ thoát nước, xử lý nước thải”. Theo Nghị định số 346/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được xác định bằng 10% giá bán của một mét khối nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định mức cao hơn. Khoản phí này được thu cùng hóa đơn tiền nước và nộp vào ngân sách nhà nước, không được hạch toán trực tiếp vào doanh thu kinh doanh của tổ chức thu phí.
Do được tính theo tỷ lệ phần trăm của giá nước sạch, khoản thu thực tế thường thấp hơn nhiều so với chi phí cần thiết để thu gom và xử lý một mét khối nước thải. Nếu giá nước sạch đang được duy trì ở mức thấp thì dù tỷ lệ thu được điều chỉnh từ 10% lên 20% hoặc 30%, nguồn thu vẫn khó bù đắp đầy đủ chi phí vận hành hệ thống. Mặt khác, tại nhiều nơi, giá dịch vụ thoát nước chưa được xây dựng đầy đủ hoặc chưa phản ánh toàn bộ chi phí hợp lý của chuỗi dịch vụ.
“Sự thiếu hụt nguồn thu dẫn đến một nghịch lý: nhiều công trình xử lý nước thải được đầu tư với kinh phí lớn nhưng sau khi hoàn thành lại thiếu nguồn lực để vận hành ổn định, bảo trì và tái đầu tư. Hay đơn vị vận hành phụ thuộc vào ngân sách, trong khi địa phương phải tiếp tục bù phần chênh lệch giữa nguồn thu và chi phí thực tế. Nếu ngân sách không được bố trí đầy đủ, hệ thống có nguy cơ hoạt động dưới công suất, cắt giảm quy trình kỹ thuật hoặc chậm sửa chữa, làm giảm hiệu quả của chính khoản vốn đầu tư ban đầu”, TS Tùng cho biết.
Cơ chế này cũng chưa tạo được động lực đủ mạnh để thu hút khu vực tư nhân. Đơn cử, một dự án xử lý nước thải có thời gian hoàn vốn dài, chi phí vận hành lớn và yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt. Nếu giá dịch vụ không phản ánh chi phí, nguồn thu không ổn định và cơ chế bù chênh lệch thiếu tính cam kết, doanh nghiệp rất khó xây dựng phương án tài chính khả thi. Ngay cả dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư cũng khó hấp dẫn nếu nhà đầu tư không nhìn thấy dòng tiền dài hạn và cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng.
Định giá đúng nước thải để bảo vệ nguồn nước
Giá nước và giá dịch vụ nước thải thấp còn làm giảm động lực tuần hoàn, tái sử dụng nước. Để sử dụng lại nước thải trong sản xuất, làm mát, vệ sinh công nghiệp hoặc tưới cây, doanh nghiệp phải đầu tư thêm công nghệ xử lý, hệ thống đường ống riêng, thiết bị kiểm soát chất lượng và chi phí vận hành. Nếu mua nước sạch hoặc khai thác nguồn nước mới vẫn rẻ hơn, doanh nghiệp khó có lý do kinh tế để lựa chọn phương án tái sử dụng, dù đây là giải pháp có lợi hơn cho môi trường và an ninh nguồn nước.
Bảo vệ nguồn nước theo chức năng và khả năng chịu tải, khuyến khích tuần hoàn, tái sử dụng nước. Ảnh: Trung Hiếu.
Như vậy, điểm nghẽn hiện nay không chỉ là “mức thu thấp”, mà sâu xa hơn là sự thiếu đồng bộ giữa chính sách tài nguyên nước, chính sách môi trường, chính sách giá và cơ chế đầu tư. Pháp luật đã yêu cầu bảo vệ nguồn nước theo chức năng và khả năng chịu tải, khuyến khích tuần hoàn, tái sử dụng nước; nhưng tín hiệu kinh tế trên thị trường lại chưa đủ mạnh để thúc đẩy các chủ thể thực hiện.
Hệ quả cuối cùng là nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” chưa được thực hiện đầy đủ. Điều 34 Luật Tài nguyên nước đã xác định kinh phí phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm có thể bao gồm nguồn chi trả của đối tượng gây suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm. Tuy nhiên, khi nguồn thu từ người phát sinh nước thải chưa đủ bù đắp chi phí, phần thiếu hụt vẫn phải chuyển sang ngân sách nhà nước và toàn xã hội.
Vấn đề đặt ra vì vậy không đơn thuần là tăng giá nước hay tăng phí nước thải, mà phải thiết kế lại cơ chế tài chính cho toàn bộ chuỗi thu gom, xử lý và tái sử dụng nước. Giá dịch vụ cần từng bước tiệm cận chi phí thực tế, nguồn thu phải được quản lý minh bạch và ưu tiên trở lại cho hệ thống; đồng thời chính sách an sinh phải được tách riêng để hỗ trợ trực tiếp hộ nghèo, hộ chính sách và khu vực khó khăn. Chỉ khi trách nhiệm tài chính được phân bổ đúng, dòng tiền vận hành được bảo đảm và lợi ích của tái sử dụng nước được lượng hóa, các quy định tiến bộ của Luật Tài nguyên nước mới thực sự đi vào cuộc sống.
Nguyễn Thủy - Trung Hiếu