Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Lưu Vực Sông Đồng Nai Tháng 08 Năm 2026

Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Lưu Vực Sông Đồng Nai Tháng 08 Năm 2026

Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Đồng Nai được biên soạn hàng tháng để cung cấp các thông tin về tổng lượng nước, chất lượng nước tại 02 trạm nước mặt Cát Tiên, Đại Ninh; mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của Pháp luật.

 Lưu vực sông Đồng Nai là một trong các lưu vực sông lớn của Việt Nam tổng diện tích lưu vực khoảng 36.350 km2, trải rộng trên địa bàn nhiều tỉnh/thành phố như TP. Hồ Chí Minh, TP. Đồng Nai, tỉnh Lâm Đồng và một phần phía Tây Bắc của tỉnh Tây Ninh.

Nội dung chính của bản tin bao gồm:

- Thông báo số lượng và chất lượng nước tháng 7 tại trạm tài nguyên nước mặt Đại Ninh trên sông Đa Nhim và tại trạm Cát Tiên trên sông Đồng Nai.

- Thông báo mực nước dưới đất tháng 7 năm 2026, chất lượng nước mùa khô năm 2026 và dự báo mực nước dưới đất tháng 8 năm 2026 cho các tầng chứa nước trên lưu vực, đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng, chất lượng nước trong phạm vi 84 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.

1. Hiện trạng nguồn nước mặt

Mực nước trung bình tháng 7 năm 2026 trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh là 88013cm, giảm 13cm so với tháng trước, giảm 11cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 10cm so với giá trị tháng 7 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 88088cm (ngày 13/7/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 87982cm (ngày 22/7/2026).

Mực nước trung bình tháng 7 năm 2026 trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên là 12753cm, giảm 37cm so với tháng trước, giảm 105cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 98cm so với giá trị tháng 7 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 12864cm (ngày 01/7/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 12651cm (ngày 07/7/2026).

2 Hiện trạng nguồn nước dưới đất

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế hạ. Trong đó có 3/3 công trình mực nước hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 0,21m tại xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (LK117T).

Trong tháng 7: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,77m tại xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (LK117T) và sâu nhất là -6,36m tại xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (LK118T).

Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 7 tầng q

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Trong đó có 11/18 công trình mực nước dâng, 4/18 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 3/18 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 1,75m tại Phường 2 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (LK101T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,17m tại Phường Đông Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng (LK86T).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Jura trên - Creta (J1-K): Trong lưu vực sông hiện tại có 01 công trình quan trắc tầng J1-K. Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Trong đó có 1/1 công trình mực nước dâng. Giá trị dâng cao nhất là 1,55m tại xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (LK120T).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Jura dưới - giữa (J1-2) : Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế hạ. Trong đó có 3/4 công trình mực nước hạ, 1/4 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,33m tại xã Ninh Gia, tỉnh Lâm Đồng (LK104aT).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6, có 1/3 công trình mực nước dâng, 1/3 công trình mực nước hạ và 1/3 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể.

Trong tháng 7: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,56m tại xã Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh (Q822010) và sâu nhất là -8,85m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808010).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3): Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Trong đó có 4/7 công trình mực nước dâng, 2/7 công trình mực nước hạ và 1/7 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 0,76m tại xã Ninh Điền, tỉnh Tây Ninh (Q222020) và giá trị hạ thấp nhất là 0,24m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808020).

Trong tháng 7: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,3m tại Phường Tân Ninh, tỉnh Tây Ninh (Q221020) và sâu nhất là -8,73m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808020).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3):

Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Trong đó có 8/11 công trình mực nước dâng, 2/11 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/11 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 2,26m tại xã Ninh Điền, tỉnh Tây Ninh (Q222230) và giá trị hạ thấp nhất là 0,18m tại xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai (Q039030M1).

Trong tháng 7: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,28m tại xã Đại Phước, TP. Đồng Nai (Q014340) và sâu nhất là -17,95m tại Phường Trung Mỹ Tây, TP. Hồ Chí Minh (Q011340).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1):

Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Trong đó có 6/8 công trình mực nước dâng, 1/8 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/8 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 0,87m tại Phường Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (Q02304TM1) và giá trị hạ thấp nhất là 0,16m tại xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai (Q039340M1).

Trong tháng 7: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,89m tại xã Long Thành, TP. Đồng Nai (Q040020) và sâu nhất là -14,79m tại xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai (Q039340M1).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n2 2): Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Trong đó có 10/13 công trình mực nước dâng, 2/13 công trình mực nước hạ và 1/13 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 0,41m tại xã Long Thành, TP. Đồng Nai (Q040040M1) và giá trị hạ thấp nhất là 0,17m tại Phường Trung Mỹ Tây, TP. Hồ Chí Minh (Q011040).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n2 1):  Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Trong đó có 4/5 công trình mực nước dâng, 1/5 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 0,34m tại xã Tân Lập, tỉnh Tây Ninh (Q220050M1).

 nước dâng, 2/5 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/5 công trình mực nước hạ.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Miocene trên (n1 3): Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Trong đó có 2/3 công trình mực nước dâng, 1/3 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 0,2m tại xã Tân Nhựt, TP. Hồ Chí Minh (Q605070).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá bazan (B/n-q): Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Trong đó có 5/5 công trình mực nước dâng. Giá trị dâng cao nhất là 3,3m tại Phường Xuân Lập, TP. Đồng Nai (Q71207ZM1).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá Kainozoi (ps-ms): Mực nước dưới đất trung bình tháng 7 so với tháng 6 có xu thế dâng. Trong đó có 2/2 công trình mực nước dâng. Giá trị dâng cao nhất là 0,28m tại xã Bù Đăng, TP. Đồng Nai (Q223060).

3. Đề xuất, kiến nghị

Đối với nước mặt

Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm Đại Ninh trong tháng 7 năm 2026 khoảng 16,6 triệu m3, giảm khoảng 9,7 triệu m3 so với tháng trước, tại trạm Cát Tiên khoảng 334,2 triệu m3, giảm khoảng 107,1 triệu m3 so với tháng trước.

Theo QCVN 08:2023/BTNMT, các thông số chất lượng nước mặt tại trạm Đại Ninh trên sông Đa Nhim và trạm Cát Tiên trên sông Đồng Nai có chất lượng nước xấu. Các thông số COD, BOD5, Tổng Nitơ và Tổng Coliform có giá trị chất lượng nước thuộc cột D; TSS và Tổng Photpho thuộc cột B (trạm Đại Ninh). Các thông số COD, Tổng Nitơ và Tổng Coliform có giá trị chất lượng nước thuộc cột B; thông số BOD5 thuộc cột C (trạm Cát Tiên). Cần có biện pháp xử lý kịp thời để cải thiện chất lượng nguồn nước, đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước.

Đối với nước dưới đất

Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực xã Phước Hòa, TP. Hồ Chí Minh, xã Bù Đăng, TP. Đồng Nai, Phường Đông Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng, Phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng, xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai, xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh, Phường 2 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xã Ninh Gia, tỉnh Lâm Đồng, xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Nhìn chung, chất lượng nước dưới đất tại các tầng chứa nước trên lưu vực sông Đồng Nai trong mùa khô năm 2026 đa số nằm trong giới hạn cho phép, tuy nhiên có một số công trình có hàm lượng TDS, Mn, Pb và NH4+ vượt quá GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT, tập trung ở các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh), các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trên (qp3), Pleistocene giữa-trên (qp2-3), Pleistocene dưới (qp1), tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n22), tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n21) và các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Miocene trên (n13).

Tài liệu đính kèm
1786609021-DrKBK12Mp3.pdf
pdf