Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Tỉnh Gia Lai Tháng 08 Năm 2026

Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Tỉnh Gia Lai Tháng 08 Năm 2026

Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên tỉnh Gia Lai được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về số lượng, chất lượng nước mặt, mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.

Gia Lai là một tỉnh nằm trên 4 lưu vực sông Sê San, Srê Pốk, Ba và Kôn – Hà Thanh có diện tích tự nhiên là 21.576,53km2. Nội dung chính của bản tin tháng bao gồm:

- Thông báo số lượng, chất lượng nước mặt tháng 7 năm 2026 trên sông Ba A Yun tại trạm Ya Yun Hạ.

- Thông báo mực nước dưới đất tháng 7 và chất lượng nước mùa khô năm 2026; dự báo mực nước dưới đất tháng tiếp theo tại các tầng chứa nước, đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 65 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.

1. Hiện trạng nguồn nước mặt

Mực nước trung bình tháng 7 năm 2026 trên sông Ba A Yun tại trạm Ya Yun Hạ là 20823cm, tăng 33cm so với tháng trước, giảm 50cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 19cm so với tháng 7 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 20899cm (ngày 04/7/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20744cm (ngày 22/7/2026).

Bảng 1. Kết quả quan trắc tài nguyên nước tháng 7 năm 2026

Trạm

Yếu tố

TBNN

TB tháng trước

Tháng 7

Tăng/giảm (-) %

So với TBNN

So với tháng trước

Ya Yun Hạ

Mực nước (cm)

20842

20790

20823

-0,091

0,16

Lưu lượng nước (m3/s)

28,7

14,0

25,0

-12,8

78,9

Tổng lượng nước (triệu m3)

64,4

36,2

56,2

-12,8

55,2

 

2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế dâng so với tháng 6. Giá trị dâng cao nhất là 0,78m tại xã Uar (LK34T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,38m tại xã Đăk Pơ (LK14T).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,02m tại xã Phú Thiện (CB1-IV) và sâu nhất là -12,43m tại xã Ia Rsai (LK36aT).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế dâng so với tháng 6. Giá trị dâng cao nhất là 0,19m tại phường Quy Nhơn Đông (QT8-BĐ).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,71m tại phường Quy Nhơn Đông (QT8-BĐ) và sâu nhất là -2,72m tại xã Tuy Phước Đông (QT10-BĐ).

 

Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tầng qh

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế dâng hạ không đáng kể so với tháng 6. Giá trị hạ thấp nhất là 0,94m tại xã Hòa Hội (QT2-BĐ) và một công trình có mực nước dâng là 0,08m tại phường An Nhơn Đông (QT5a-BĐ).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,38m tại xã Tuy Phước Đông (QT4-BĐ) và sâu nhất là -13,6m tại phường Quy Nhơn Đông (QT3-BĐ).

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế dâng so với tháng 6. Giá trị dâng cao nhất là 2,53m tại phường Thống Nhất (C3b).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,83m tại xã Biển Hồ (LK159T) và sâu nhất là -22,13m tại phường Hội Phú (LK167T).

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế dâng so với tháng 6. Giá trị dâng cao nhất là 2,44m tại xã Chư Păh (C2a) và giá trị hạ thấp nhất là 0,31m tại xã Ia Hrú (LK170T).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,53m tại xã Chư Prông (LK144T) và sâu nhất là -29,53m tại xã Đức Cơ (LK165T).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế dâng so với tháng 6. Giá trị dâng cao nhất là 1,01m tại xã Ia Ly (LK62T).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,84m tại xã Ia Ly (LK59T) và sâu nhất là -19,2m tại xã Ia Ly (LK62T).

Tầng chứa nước khe nứt trong đá biến chất Arkei (ar): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 7 có xu thế dâng hạ so với tháng 6. Mực nước hạ là 0,05m tại xã Bình An (QT7b-BĐ).

Mực nước trung bình tháng nông nhất là -4,5m tại phường An Nhơn (QT6b-BĐ) và sâu nhất là -5,02m tại xã Bình An (QT7b-BĐ).

3. Cảnh báo nguồn nước dưới đất

Theo Khoản 18 Điều 1 của Nghị định 23/2026/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất (từ 50% so với mực nước hạ thấp cho phép trở lên), trong tỉnh thời điểm hiện tại có 2 công trình có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo (xem bảng sau). Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh khu vực này.

Bảng 6. Cảnh báo độ sâu mực nước trung bình tháng 7

STT

SHLK

TCN

Vị trí

Độ sâu mực nước (m)

Ngưỡng GHCP (m)

% đạt đến ngưỡng GHCP

1

LK162T

β(n2-qp)

xã Chư Păh

-26,63

-50

53,26

2

LK165T

β(n2-qp)

xã Đức Cơ

-29,53

-50

59,06

4. Đề xuất, kiến nghị

Đối với nước mặt

Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm Ya Yun Hạ trong tháng 7 năm 2026 khoảng 56,2 triệu m3, tăng khoảng 19,9 triệu m3 so với tháng trước. Theo QCVN 08:2023/BTNMT, chất lượng nước mặt tại trạm Ya Yun Hạ trên sông Ba A Yun có các thông số COD, BOD5, Tổng Nitơ và Tổng Coliform có giá trị chất lượng nước thuộc cột D. Cần có biện pháp để cải thiện chất lượng nguồn nước hiện tại được tốt hơn, đáp ứng được nhu cầu khai thác, sử dụng nước.

Đối với nước dưới đất

Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại khu vực xã Chư Păh, xã Đức Cơ.

Đa số các thông số chất lượng nước trong tỉnh nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, qh, qp, β(qp), β(n2-qp), n. Các thông số vượt bao gồm pH, Tổng Coliform, Nitrate, Amoni, chỉ số Permanganat, Tổng chất rắn hòa tan, Độ cứng, Chloride, Mangan và Sắt.

Tài liệu đính kèm
1786608320-rMJRsnyXBt.doc
doc