Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Lưu Vực Sông Ba Tháng 07 Năm 2026

Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Lưu Vực Sông Ba Tháng 07 Năm 2026

Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Ba được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về số lượng, chất lượng nước mặt, mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.

 Lưu vực sông Ba là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm 2 tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk với tổng diện tích lưu vực là 13.417km2. Nội dung chính của bản tin năm bao gồm:

- Thông báo số lượng và chất lượng nước mặt tháng 6 năm 2026 theo kết quả quan trắc được tại hai trạm tài nguyên nước An Thạnh trên sông Kỳ Lộ và Ya Yun Hạ trên sông Ba A Yun.

- Thông báo mực nước dưới đất trung bình tháng 6, chất lượng nước mùa khô năm 2026 và dự báo mực nước dưới đất trung bình tháng 7 tại các tầng chứa nước, đưa ra cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 33 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.

1. Hiện trạng nguồn nước mặt

Mực nước trung bình tháng 6 năm 2026 trên sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh là 316cm, giảm 18cm so với tháng trước, giảm 20cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 09cm so với tháng 6 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 341cm (ngày 03/6/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 293cm (ngày 21/6/2026).

Mực nước trung bình tháng 6 năm 2026 trên sông Ba A Yun tại trạm Ya Yun Hạ là 20789cm, tăng 18cm so với tháng trước, giảm 48cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 25cm so với tháng 6 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 20853cm (ngày 05/6/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20746cm (ngày 23/6/2026).

2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế hạ, có 5/11 công trình mực nước hạ, 3/11 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 3/11 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,19m tại phường An Bình, tỉnh Gia Lai (LK15T) và giá trị dâng cao nhất là 0,73m tại xã Phú Thiện, tỉnh Gia Lai (LK151T).

Sơ đồ dự báo diễn biến mực nước tầng q

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế hạ, có 4/6 công trình mực nước hạ, 2/6 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,35m tại phường Bình Kiến, tỉnh Đắk Lắk (QT3-PY).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng hạ không đáng kể, có 2/4 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể, 1/4 công trình mực nước hạ và 1/4 công trình mực nước dâng. Một công trình mực nước hạ là 0,09m tại phường Tuy Hoà, tỉnh Đắk Lắk (QT5b-PY) và một công trình mực nước dâng là 0,10m tại xã Tây Hoà, tỉnh Đắk Lắk (QT6a-PY).

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK65T thuộc xã Ia Tôr, tỉnh Gia Lai mực nước trung bình tháng 6 hạ 0,87m so với tháng 5.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế hạ, có 3/3 công trình mực nước hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 1,25m tại xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk (LK30T).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 3/5 công trình mực nước dâng, 1/5 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/5 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 0,57m tại xã Phú Thiện, tỉnh Gia Lai (C7b) và một công trình mực nước hạ là 0,14m tại xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai (LK39T).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei-Sialua (ar-s): T Theo kết quả quan trắc tại công trình LK54T thuộc xã Ea Knốp, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 6 dâng hạ không đáng kể so với tháng 5.

3. Cảnh báo nguồn nước dưới đất

Theo khoản 18 điều 1 của Nghị định 23/2026/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất (từ 50% so với mực nước hạ thấp cho phép trở lên), trong lưu vực sông Ba thời điểm hiện tại chưa có công trình nào có độ sâu mực nước vượt quá 50% ngưỡng giới hạn cho phép cần phải cảnh báo.

4. Đề xuất, kiến nghị

Đối với tài nguyên nước mặt: Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm An Thạnh trong tháng 6 năm 2026 khoảng 135,8 triệu m3, giảm khoảng 93,4 triệu m3 so với tháng trước, tại trạm Ya Yun Hạ khoảng 30,5 triệu m3, tăng khoảng 6,5 triệu m3 so với tháng trước.

Theo QCVN 08:2023/BTNMT, chất lượng nước mặt tại trạm An Thạnh trên sông Kỳ Lộ có các thông số COD, BOD5 và Tổng Nitơ thuộc cột B, Tổng Photpho có giá trị chất lượng nước thuộc cột D. Tại trạm Ya Yun Hạ trên sông Ba A Yun, có các thông số có giá trị chất lượng nước thuộc cột A. Cần duy trì và có biện pháp xử lý phù hợp với những thông số có chất lượng nước xấu, để chất lượng nguồn nước luôn được tốt, đáp ứng được các nhu cầu sử dụng nước.

Đối với tài nguyên nước dưới đất: Hiện tại, trên phạm vi lưu vực sông Ba chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, tuy nhiên để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trên lưu vực và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.

Đa số các thông số chất lượng nước trên lưu vực sông nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, qh, qp, β(qp), β(n2-qp), n và j1-2. Các thông số vượt bao gồm pH, tổng Coliform, Nitrate, Amoni, Permanganat, Tổng chất rắn hòa tan, Độ cứng, Chloride, Mangan và Sắt.

Tài liệu đính kèm
1785818085-5rmxdGreoe.pdf
pdf