Quản trị lưu vực sông Ba bằng một tầm nhìn thống nhất

Quản trị lưu vực sông Ba bằng một tầm nhìn thống nhất

Quy hoạch lưu vực sông Ba hướng tới cân bằng nguồn nước giữa thượng lưu và hạ lưu, mùa lũ và mùa cạn, qua đó bảo đảm an ninh nguồn nước lâu dài, bền vững.

Sáng 19/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Ba và vùng phụ cận thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. 

Thừa ủy quyền Chủ tịch Hội đồng, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội đồng, chủ trì cuộc họp. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Thừa ủy quyền Chủ tịch Hội đồng, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội đồng, chủ trì cuộc họp. Ảnh: Nguyễn Thủy.

100% dân số đô thị được cấp nước sạch vào năm 2030

Lưu vực sông Ba cung cấp nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện và nhiều hệ sinh thái quan trọng. Tuy nhiên, nguồn nước phân bố không đều.

Trong khoảng 11,35 tỷ m³ nước mặt trung bình nhiều năm, mùa lũ chiếm 63,2%, trong khi mùa cạn chỉ 36,8%. Vì vậy, bài toán đặt ra không chỉ là khai thác mà quan trọng hơn là tích trữ, điều hòa và phân phối hợp lý giữa mùa mưa - mùa khô, thượng lưu - hạ lưu và các ngành sử dụng nước.

Đại diện đơn vị xây dựng dự thảo Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Ba cho biết, dự thảo Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Ba có phạm vi 16.027 km², thuộc 2 tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, không gian quy hoạch chia thành tám tiểu vùng. Cách tiếp cận này giúp đánh giá khả năng nguồn nước, nhu cầu sử dụng và vấn đề ưu tiên của từng khu vực, đồng thời bảo đảm quản lý thống nhất toàn lưu vực.

Quy hoạch đặt mục tiêu điều hòa, phân phối và bảo vệ nguồn nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra và xác định các khu vực cần ưu tiên lập kế hoạch chi tiết. Quan điểm xuyên suốt là quản lý thống nhất nước mặt - nước dưới đất, số lượng - chất lượng và thượng lưu - hạ lưu, đồng thời cân bằng các chức năng cấp nước, sản xuất, phát điện, bảo vệ hệ sinh thái và tiêu thoát lũ.

Đến năm 2030, Quy hoạch hướng tới giám sát 100% công trình khai thác, sử dụng nước thuộc diện phải giám sát; hoàn thành công bố hành lang bảo vệ nguồn nước và khả năng chịu tải của các nguồn nước liên tỉnh quan trọng. Tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý trên 50%; 100% dân số đô thị được cấp nước sạch qua hệ thống tập trung và khoảng 62% dân cư nông thôn sử dụng nước đạt quy chuẩn.

Đến năm 2050, điều hòa, phân phối nước và vận hành hồ, liên hồ từng bước chuyển sang nền tảng số, theo thời gian thực. Qua đó, công tác quản lý nguồn nước từng bước chuyển từ xử lý tình huống sang chủ động dự báo, điều hành và quản trị rủi ro trên toàn lưu vực.

Đến năm 2050, sông Ba hướng tới đáp ứng 3,25 tỷ m³ nước mỗi năm

Quy hoạch đặt trọng tâm vào điều hòa, phân phối nguồn nước, đáp ứng nhu cầu khoảng 2,52 tỷ m³/năm vào năm 2030 và 3,25 tỷ m³/năm vào năm 2050, trong đó nước sinh hoạt luôn được ưu tiên cao nhất. Việc phân bổ phải bảo đảm công bằng giữa thượng và hạ lưu, không vượt khả năng khai thác của từng nguồn. Lượng nước phân bổ hằng năm sẽ được điều chỉnh theo dự báo khí tượng thủy văn và kịch bản nguồn nước, thay vì áp dụng một phương án cố định.

Quy hoạch đặt trọng tâm vào điều hòa, phân phối nguồn nước, đáp ứng nhu cầu khoảng 2,52 tỷ m³/năm vào năm 2030 và 3,25 tỷ m³/năm vào năm 2050. Ảnh: Kim Sơ.

Quy hoạch đặt trọng tâm vào điều hòa, phân phối nguồn nước, đáp ứng nhu cầu khoảng 2,52 tỷ m³/năm vào năm 2030 và 3,25 tỷ m³/năm vào năm 2050. Ảnh: Kim Sơ.

Nước mặt tiếp tục là nguồn cấp chính, còn nước dưới đất giữ vai trò dự phòng cho đô thị và khu vực thiếu nước. Các hồ An Khê, Ka Nak, Ayun Hạ, Ia M’lá, Sông Hinh cùng hệ thống thủy nông Đồng Cam được vận hành trong mối liên kết tổng thể, phục vụ sinh hoạt, sản xuất và điều tiết giữa các tiểu vùng. Với vùng khó tiếp cận nguồn nước, cần kết hợp khai thác nước dưới đất, thu trữ nước mưa và xây dựng công trình tích trữ phân tán.

Trong nông nghiệp, yêu cầu chuyển từ gia tăng khai thác sang sử dụng nước hiệu quả, giảm thất thoát thủy lợi, áp dụng tưới tiết kiệm, điều chỉnh mùa vụ và cơ cấu cây trồng theo khả năng nguồn nước. Những vùng cuối kênh, thường xuyên hạn hán cần ưu tiên cây chịu hạn, tránh mở rộng sản xuất vượt khả năng cấp nước.

Các hồ thủy điện không chỉ phát điện mà còn phải tham gia giảm lũ, cấp nước hạ du và bảo vệ môi trường; vận hành linh hoạt để hài hòa an ninh năng lượng với an ninh nguồn nước.

Khi xảy ra thiếu nước, cơ chế ứng phó có thể gồm hạn chế sử dụng chưa thiết yếu, điều chỉnh hạn ngạch khai thác, cắt giảm diện tích sản xuất, thay đổi chế độ tích - xả hồ và luân phiên khai thác nước mặt, nước dưới đất. Công trình dự phòng và một phần dung tích chết có thể được huy động để bảo đảm nhu cầu thiết yếu.

 

Song song phân phối, quy hoạch yêu cầu bảo vệ nguồn nước, duy trì dòng chảy tối thiểu, bảo vệ nguồn cấp nước sinh hoạt, phục hồi sông suy thoái, kiểm soát xâm nhập mặn, bảo vệ rừng đầu nguồn và không gian thoát lũ. Hạ lưu sông Ba được xác định là khu vực ưu tiên lập kế hoạch chi tiết về điều hòa, phân phối nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra.

Hoàn thiện Quy hoạch theo hướng khả thi và linh hoạt

Các ủy viên phản biện đánh giá hồ sơ Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Ba được chuẩn bị công phu, cơ bản đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên, cần tiếp tục rà soát tính thống nhất với Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và quy hoạch ngành; đồng bộ số liệu về nguồn nước, nhu cầu sử dụng, ngưỡng khai thác, dòng chảy tối thiểu giữa báo cáo, phụ lục và bản đồ.

GS.TS Phạm Thị Hương Lan, Viện Thủy văn, Môi trường và Biến đổi khí hậu đề xuất, Quy hoạch cần làm rõ hơn đặc thù lưu vực sông Ba, sự phân bố nguồn nước không đều, tác động của hồ chứa và nhu cầu giữa các tiểu vùng; đồng thời cụ thể hóa cơ chế phân bổ nước linh hoạt theo từng trạng thái nguồn nước, xác định khu vực, nguồn nước chiến lược và thứ tự ưu tiên cấp nước.

GS.TS Phạm Thị Hương Lan đề xuất, Quy hoạch cần làm rõ hơn đặc thù lưu vực sông Ba. Ảnh: Nguyễn Thủy.

GS.TS Phạm Thị Hương Lan đề xuất, Quy hoạch cần làm rõ hơn đặc thù lưu vực sông Ba. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Đại diện các bộ, ngành đề nghị làm rõ cơ chế phối hợp vận hành hồ thủy điện, thủy lợi, hài hòa giữa phát điện, giảm lũ và cấp nước hạ du; bảo đảm quy hoạch cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải phù hợp khả năng nguồn nước và có phương án dự phòng khi hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm.

Về giải pháp, cần ưu tiên liên kết nguồn nước An Khê - Ba Ayun - trung lưu sông Ba, hoàn thiện hệ thống Đồng Cam, tăng trữ nước phân tán, giảm thất thoát, tái sử dụng nước và bảo vệ rừng đầu nguồn. Danh mục nhiệm vụ phải được phân kỳ theo mức độ cấp thiết, gắn với mục tiêu, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm cụ thể.

Đặc biệt, hệ thống quan trắc, cơ sở dữ liệu và công cụ hỗ trợ ra quyết định cần được coi là nền tảng, kết nối dữ liệu khí tượng thủy văn, khai thác và chất lượng nước để phục vụ điều hành, phân phối nước và vận hành liên hồ theo thời gian thực.

Trách nhiệm được phân định rõ giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các bộ quản lý ngành, UBND hai tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và các chủ công trình. Cơ quan lập Quy hoạch sẽ tiếp thu ý kiến, rà soát phương án phân bổ nước, danh mục nhiệm vụ và cơ chế thực hiện trước khi hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền.

Cục trưởng Châu Trần Vĩnh nhấn mạnh, Quy hoạch phải là căn cứ để điều hòa, phân phối, bảo vệ nguồn nước và xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, lĩnh vực. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Cục trưởng Châu Trần Vĩnh nhấn mạnh, Quy hoạch phải là căn cứ để điều hòa, phân phối, bảo vệ nguồn nước và xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, lĩnh vực. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Kết luận cuộc họp, Cục trưởng Châu Trần Vĩnh đánh giá cao 13 ý kiến của các ủy viên Hội đồng, cho rằng các góp ý đều xác đáng, tập trung vào những vấn đề cốt lõi và cần được nghiêm túc tiếp thu.

Theo ông Vĩnh, mục tiêu quan trọng không chỉ là hoàn thiện hồ sơ để phê duyệt mà phải bảo đảm Quy hoạch thực sự triển khai được trong thực tiễn. Khi xảy ra hạn hán, thiếu nước, ô nhiễm hoặc xung đột nhu cầu sử dụng, Quy hoạch phải là căn cứ để điều hòa, phân phối, bảo vệ nguồn nước và xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, lĩnh vực.

Do đó, cần làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của địa phương, vừa tạo dư địa chủ động xử lý tình huống, vừa quy định rõ nguyên tắc và giới hạn thực hiện. Các mục tiêu, nhiệm vụ đến năm 2030 cũng phải được rà soát về tính khả thi, xác định thứ tự ưu tiên, nguồn vốn và trách nhiệm cụ thể. Những nhiệm vụ chưa thể thực hiện cần chuyển thành định hướng đến năm 2050, tránh dàn trải.

Cục trưởng Châu Trần Vĩnh đồng thời yêu cầu rà soát danh mục công trình, chức năng nguồn nước, phương án phân bổ và cơ chế phối hợp liên ngành; thống nhất giữa báo cáo, phụ lục, bản đồ và dự thảo quyết định.

Hội đồng thống nhất thông qua hồ sơ với yêu cầu tiếp thu, hoàn thiện, hướng tới xây dựng Quy hoạch thành công cụ quản trị nguồn nước có tính khả thi, nguồn lực và trách nhiệm rõ ràng.

Nguyễn Thủy - Kim Sơ