Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Cửu Long được biên soạn hàng tháng để cung cấp các thông tin về tổng lượng nước mặt nội sinh tại các tiểu vùng dự báo, mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của Pháp luật.
Lưu vực sông Cửu Long là một trong các lưu vực sông lớn của Việt Nam có tổng diện tích khoảng 3,99 triệu ha, trải rộng trên địa bàn nhiều tỉnh/thành phố như thành phố Cần Thơ, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh An Giang, tỉnh Cà Mau và một phần phía Tây Nam của tỉnh Tây Ninh.
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Lượng mưa hàng năm của lưu vực sông Cửu Long vào khoảng 1300-2400mm, trung bình khoảng 1870mm/năm, mùa mưa trên lưu vực thường bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 11 với lượng mưa chiếm khoảng 80-85% tổng lượng mưa cả năm. Tổng lượng dòng chảy trung bình năm trên lưu vực sông Cửu Long khoảng 474 tỷ m3, trong đó có khoảng 30 tỷ m3 được hình thành trong đồng bằng sông Cửu Long, 444 tỷ m3 đến từ trung, thượng lưu sông Mê Công chảy vào, mùa lũ từ tháng 7 đến tháng 11 có lượng dòng chảy thường chiếm khoảng 70 – 80% tổng lượng dòng chảy năm, lượng dòng chảy mùa cạn chiếm khoảng 20 – 30% tổng lượng dòng chảy năm.
2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng. Trong đó có 15/30 công trình mực nước dâng, 11/30 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 4/30 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 0,47m tại Phường Duyên Hải, tỉnh Vĩnh Long (Q217010) và giá trị hạ thấp nhất là 0,54m tại xã An Long, tỉnh Đồng Tháp (Q031010).
Sơ đồ dự báo diễn biến mực nước tầng qh
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3): Mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5, có 17/40 công trình mực nước hạ, 16/40 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 7/40 công trình mực nước dâng.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3): Mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5, có 20/46 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể, 15/46 công trình mực nước hạ và 11/46 công trình mực nước dâng.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1): Mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5, có 20/44 công trình mực nước hạ, 16/44 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 8/44 công trình mực nước dâng.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n2 2): Mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5, có 22/45 công trình mực nước hạ, 12/45 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 11/45 công trình mực nước dâng.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n2 1): Mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế hạ. Trong đó có 20/39 công trình mực nước hạ, 13/39 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 6/39 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,42 m tại xã Vĩnh Lợi, TP. Cần Thơ (Q618060) và giá trị dâng cao nhất là 0,38 m tại xã Tân Phước 3, tỉnh Đồng Tháp (Q603060).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Miocene trên (n1 3): Mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế hạ. Trong đó có 16/29 công trình mực nước hạ, 7/29 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 6/29 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,23 m tại Phường Long Mỹ, TP. Cần Thơ (Q211070) và giá trị dâng cao nhất là 0,42 m tại xã Nhựt Tảo, tỉnh Tây Ninh (Q604070).
3. Đề xuất, kiến nghị
Đối với tài nguyên nước mặt: Tổng lượng tài nguyên nước mặt dự báo trong tháng 7 năm 2026 trên lưu vực sông Cửu Long có xu thế cao hơn so với tháng 7 năm 2025. Vì vậy, để tận dụng nguồn nước mặt từ mưa, các địa phương cần tiếp tục khai thác nước mưa, nước ngọt để phục vụ sinh hoạt, canh tác tại địa phương và theo dõi các bản tin tiếp theo để có kế hoạch khai thác sử dụng nước phù hợp.
Đối với tài nguyên nước dưới đất:
Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước đang có nguy cơ hạ thấp tới ngưỡng giới hạn cho phép.
Nhìn chung, chất lượng nước dưới đất tại các tầng chứa nước trên lưu vực sông Cửu Long trong mùa khô năm 2026 đa số nằm trong giới hạn cho phép, , tuy nhiên có một số công trình có độ mặn, hàm lượng Tổng Coliform, TDS, Mn, chỉ số Permanganat NH4+, vượt quá GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT, tập trung ở các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh), tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trên (qp3), Pleistocen giữa-trên (qp2-3), Pleistocen dưới (qp1), tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n22), Pliocene dưới (n21) và tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Miocene trên (n13).