Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Sê San được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về dự báo tổng lượng nước nội sinh, cảnh báo nguồn nước tại các vùng dự báo; mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.
Lưu vực sông Sê San nằm trên 2 tỉnh Quảng Ngãi và Gia Lai với tổng diện tích lưu vực là 11.450km2. Trên lưu vực sông Sê San có 6 vị trí dự báo tổng lượng nước nội sinh tại 6 tiểu vùng dự báo.
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Lưu vực sông Sê San là một trong những lưu vực sông lớn thuộc 2 tỉnh Quảng Ngãi và Gia Lai với tổng diện tích lưu vực là 11.510 km2. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm trên lưu vực đạt 1.823 mm, trong đó mùa mưa chiếm 83,3% tổng lượng mưa năm, mùa khô chiếm khoảng 16,7%. Tổng lượng tài nguyên nước mặt trên lưu vực khoảng 12,84 tỷ m3, mùa lũ đạt 10,1 tỷ m³ chiếm khoảng 78% trong khi mùa khô chỉ 2,74 tỷ m³ chiếm khoảng 22% tổng lượng nước hàng năm.
2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế dâng, có 4/8 công trình mực nước dâng, 2/8 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 2/8 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 0,65m tại xã Ia Boòng, tỉnh Gia Lai (LK4Tm1) và giá trị hạ thấp nhất là 0,14m tại xã Đăk Tô, tỉnh Quảng Ngãi (LK135T).
Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 06 tầng q
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế hạ, có 4/8 công trình mực nước hạ, 3/8 công trình mực nước dâng và 1/8 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 1,66m tại phường An Phú, tỉnh Gia Lai (CB1-I) và giá trị dâng cao nhất là 0,41m tại xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai (LK160T).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế hạ, có 7/12 công trình mực nước hạ, 3/12 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 2/12 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 1,87m tại xã Ia Dom, tỉnh Gia Lai (LK8T) và giá trị dâng cao nhất là 0,97m tại xã Chư Păh, tỉnh Gia Lai (C2o).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 6 so với tháng 5 có xu thế hạ, có 9/12 công trình mực nước hạ, 2/12 công trình mực nước dâng và 1/12 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,75m tại xã Đăk Hà, tỉnh Quảng Ngãi (LK139Tm1) và giá trị dâng cao nhất là 0,54m tại xã Ia Ly, tỉnh Gia Lai (LK59T).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei- Sialua (ar-s): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK157T thuộc xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi mực nước trung bình tháng 6 hạ 0,41m so với tháng 5.
3. Đề xuất, kiến nghị
Đối với tài nguyên nước mặt: Trên lưu vực sông Sê San, dự báo tổng lượng nước mặt trong tháng 7 năm 2026 trong khoảng 1143,9 – 1208,0 triệu m3, trong đó cao nhất tại vùng Hạ Sê San, tổng lượng nước mặt dao động trong khoảng 310,0 – 314,5 triệu m3, thấp nhất tại vùng Thượng Đắk Bla, tổng lượng nước mặt dao động trong khoảng 94,7 – 106,8 triệu m3. Tổng lượng nước mặt có xu thế giảm khoảng 6% so với TBNN cùng thời kỳ, cần có phương án tích trữ nguồn nước mưa để phục vụ cho sinh hoạt và các hoạt động khác của địa phương trong các đợt nắng nóng hạn hán tại khu vực.
Kết quả tính toán cân bằng nguồn nước trên lưu vực sông Sê San dự báo trong tháng 7 năm 2026 cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của các ngành.
Đối với tài nguyên nước dưới đất: Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực xã Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
Đa số các thông số chất lượng nước trên lưu vực sông nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, β(qp), β(n2-qp), n, ar-s. Các thông số vượt bao gồm pH, tổng Coliform, Sắt, Mangan, Nitrate.