Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước năm trên tỉnh Gia Lai được biên soạn nhằm cung cấp các thông tin về số lượng, chất lượng nước mặt, mực nước, chất lượng nước dưới đất nhằm phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.
Gia Lai là một tỉnh nằm trên 4 lưu vực sông Sê San, Srê Pôk, Ba và Kôn – Hà Thanh có diện tích tự nhiên là 21.576,53km2. Nội dung chính của Bản tin năm bao gồm:
- Thông báo số lượng, chất lượng nước mặt tháng 12 năm 2025 trên sông Yayun tại trạm Ya Yun Hạ.
- Thông báo mực nước dưới đất tháng 12 năm 2025, chất lượng nước mùa mưa năm 2025 và dự báo mực nước dưới đất tháng 01, tháng 02 năm 2026 tại các tầng chứa nước, đưa ra cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 65 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Mực nước trung bình tháng 12 năm 2025 trên sông Yayun tại trạm YaYun Hạ là 20871cm, giảm 60cm so với tháng trước, tăng 44cm so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 36cm so với tháng 12 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 20902cm (ngày 10/12/2025), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20812cm (ngày 31/12/2025).
2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,61m tại xã Hra (LK11T) và giá trị dâng cao nhất là 0,73m tại xã Ia Rsai (LK36aT). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,44m tại xã Phú Thiện (C7a) và sâu nhất là -11,3m tại xã Ia Rsai (LK36aT).
Sơ đồ diễn biến mực nước tầng q
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,3m tại phường Quy Nhơn Đông (QT8-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,74m tại phường Quy Nhơn Đông (QT8-BĐ) và sâu nhất là -2,33m tại xã Tuy Phước Đông (QT10-BĐ)
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,84m tại xã Tuy Phước (QT9-BĐ) và giá trị dâng cao nhất là 0,85m tại phường Quy Nhơn Đông (QT3-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,08m tại xã Hòa Hội (QT2-BĐ) và sâu nhất là -11,62m tại phường Quy Nhơn Đông (QT3-BĐ).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,89m tại phường Thống Nhất (C3a) và một công trình có mực nước dâng là 0,23m tại phường Hội Phú (LK167T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,3m tại xã Biển Hồ (LK159T) và sâu nhất là -15,61m tại xã Ia Dom (LK166T).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2 qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 1,98m tại phường Pleiku (LK168T) và giá trị dâng cao nhất là 1m tại xã Chư Pưh (LK67T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,23m tại xã Chư Prông (LK144T) và sâu nhất là -20,77m tại xã Đức Cơ (LK165T).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế dâng hạ không rõ ràng so với tháng 11. Giá trị dâng cao nhất là 0,72m tại xã Uar (LK31T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,31m tại xã Ialy (LK62T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,14m tại xã Ialy (LK59T) và sâu nhất là -15,01m tại xã Ialy (LK62T).
Tầng chứa nước khe nứt trong đá biến chất Arkei (ar): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,57m tại phường An Nhơn (QT6b-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,53m tại phường An Nhơn (QT6bBĐ) và sâu nhất là -3,86m tại xã Bình An (QT7b-BĐ).
3. Đề xuất, kiến nghị
Đối với tài nguyên nước mặt: Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm Ya Yun Hạ trong tháng 12 năm 2025 khoảng 112,6 triệu m3 , giảm khoảng 35,8% so với tháng trước. Chất lượng nguồn nước mặt trên sông Ba Ya Yun tại trạm Ya Yun Hạ có thể sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
Đối với tài nguyên nước dưới đất: Hiện tại, trên phạm vi tỉnh Gia Lai chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, tuy nhiên để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trên lưu vực và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.
Đa số các thông số chất lượng nước trong tỉnh nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, qh, qp, β(n2-qp), n, ar. Các thông số vượt bao gồm Độ mặn, Amoni, Fluoride, Mangan.
Một số khu vực đáng chú ý gồm:
• Tầng q: Amoni và Mangan vượt GTGH lớn nhất tại công trình CB1-IV (xã Phú Thiện) và Fluoride vượt GTGH tại công trình LK36aT (xã Ia Rsai).
• Tầng qh: Độ mặn, Amoni, Fluoride vượt GTGH lớn nhất tại công trình QT10 BĐ (xã Tuy Phước Đông).
• Tầng qp: Độ mặn, Fluoride, Amoni và Mangan vượt GTGH lớn nhất tại công trình QT4-BĐ (xã Tuy Phước Đông).
• Tầng β(n2-qp): Mangan vượt GTGH tại công trình LK168T (phường Pleiku).
• Tầng n: Fluoride vượt GTGH lớn nhất tại công trình LK31T (xã Uar).
• Tầng ar: Mangan vượt GTGH tại công trình QT7b-BĐ (xã Bình An).
Đề nghị các cơ quan chức năng ở trung ương và địa phương:
• Rà soát, cập nhật thông tin chất lượng nước tại các khu vực trên;
• Kịp thời ban hành cảnh báo và hướng dẫn người dân sử dụng nước an toàn.