Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước dưới đất năm trên tỉnh Quảng Ngãi được biên soạn nhằm cung cấp các thông tin về mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật..
Quảng Ngãi là tỉnh nằm trên lưu vực sông Trà Khúc có diện tích tự nhiên là 14832,55km2 . Nội dung chính của bản tin tháng bao gồm: Thông báo mực nước dưới đất tháng 12 năm 2025, chất lượng nước mùa mưa năm 2025 và dự báo mực nước dưới đất tháng 01 năm 2026, tháng 02 năm 2026 tại các tầng chứa nước, đưa ra cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 33 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành. 1. Hiện trạng mực nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q) : Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,94m tại xã Ia Tơi (LK2Tm1) và giá trị dâng cao nhất là 0,3m tại phường Kon Tum (C11am1). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,74m tại xã Đắc Tô (LK135T) và sâu nhất là -6,59m tại xã Ia Tơi (LK2Tm1).
Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 12 năm 2025
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh) : Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,65m tại xã An Phú (QT5a-QN) và một công trình có mực nước dâng là 0,07m tại xã Bình Minh (QT3b-QN). Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,22m tại xã Bình Sơn (QT2b-QN) và sâu nhất là -4,32m tại phường Trà Câu (QT9a-QN).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế dâng so với tháng 11. Giá trị dâng cao nhất là 0,62m tại phường Trà Câu (QT9b-QN) và một công trình có mực nước hạ là 0,4m tại xã Tịnh Khê (QT4b-QN). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,61m tại xã Mỏ Cày (QT7b-QN) và sâu nhất là -4,06m tại phường Trà Câu (QT9b-QN).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 1,35m tại xã Vạn Tường (QT1-QN). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -6,14m tại xã Vạn Tường (QT1-QN) và sâu nhất là -12,51m tại xã Ia Chim (LK130T).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,37m tại xã Đắc Hà (LK139Tm1) và giá trị dâng cao nhất là 0,6m tại xã Ia Chim (LK131T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,6m tại xã Đăk Hà (LK138Tm1) và sâu nhất là -15,33m tại xã Đắc Hà (LK139Tm1).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei-Sialua (ar-s): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK157T thuộc xã Bờ Y mực nước trung bình tháng 12 dâng 0,3m so với tháng 11.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất tiền Cambri (pp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,26m tại xã Long Phụng (QT8b-QN). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,23m tại xã Vạn Tường (QT2cQN) và sâu nhất là -3,62m tại xã Long Phụng (QT8b-QN).
2. Dự báo mực nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng đệ tứ không phân chia (q): Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,13m đến 0,76m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh) : Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,09m đến 2,37m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp) : Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,63m đến 0,95m.
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ m đến 0,01m đến 2,02m.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): M Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,06m đến 1,22m.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei-Sialua (ar-s): Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước tại công trình LK157T có xu thế hạ.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất tiền Cambri (pp): Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,02m đến 0,8m
3. Cảnh báo mực nước dưới đất
Theo điều 32 của Nghị định 53/2024/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác
nước dưới đất, trong tỉnh thời điểm hiện tại chưa có công trình nào có độ sâu mực
nước cần phải cảnh báo.
4. Đề xuất, kiến nghị
Hiện tại, trong tỉnh Quảng Ngãi chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, tuy nhiên để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trên lưu vực và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.
Đa số các thông số chất lượng nước trong tỉnh nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, qh. Các thông số vượt bao gồm Amoni, Fluoride, Mangan.
Một số khu vực đáng chú ý gồm:
• Tầng q: Amoni vượt GTGH lớn nhất tại công trình C11am1 (phường Kon Tum) và Mangan vượt GTGH lớn nhất tại công trình LK2Tm1 (xã Ia Tơi).
• Tầng qh: Amoni vượt GTGH tại công trình QT2a-QN (xã Bình Sơn); Mangan vượt GTGH tại công trình QT6a-QN (xã Nghĩa Giang); Fluoride vượt GTGH tại công trình QT6a-QN (xã Nghĩa Giang).
Đề nghị các cơ quan chức năng ở trung ương và địa phương:
• Rà soát, cập nhật thông tin chất lượng nước tại các khu vực trên;
• Kịp thời ban hành cảnh báo và hướng dẫn người dân sử dụng nước an toàn.