Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Srê Pốk được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về dự báo tổng lượng nước nội sinh, cảnh báo nguồn nước tại các vùng dự báo; mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.
Lưu vực sông Srê Pốk là một trong những lưu vực sông lớn thuộc 3 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng với tổng diện tích lưu vực là 18.230 km2. Trên lưu vực sông Srê Pốk có 10 vị trí dự báo tổng lượng nước nội sinh tại 10 tiểu vùng dự báo
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Mực nước trung bình tháng 3 năm 2026 trên sông Ea Krông Nô tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên là 48654cm, giảm 44cm so với tháng trước, giảm 24cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 06cm so với tháng 3 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 48702cm (ngày 01/3/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 48629cm (ngày 11/3/2026).
2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 3 so với tháng 02 không có có xu thế rõ ràng, có 1/2 công trình mực nước dâng, 1/2 công trình mực nước hạ. Giá trị mực nước hạ là 0,21m tại xã Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk (LK51T) và giá trị mực nước dâng là 0,12m tại xã Quảng Phú, tỉnh Lâm Đồng (LK79T).
Sơ đồ diễn biến mực nước 3 tầng q
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 3 so với tháng 02 có xu thế hạ, có 9/10 công trình mực nước hạ, 1/10 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 1,6m tại xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk (LK70T).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 3 so với tháng 02 có xu thế hạ, có 21/24 công trình mực nước hạ, 2/24 công trình mực nước dâng và 1/24 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 4,78m tại xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk (LK69T) và giá trị dâng cao nhất là 0,23m tại xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng (LK82T).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK52T thuộc xã Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 3 hạ 0,31m so với tháng 02.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Jura dưới - giữa (j1-2): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 3 so với tháng 02 có xu thế hạ, có 5/6 công trình mực nước hạ, 1/6 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 2,3m tại xã Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk (LK28T).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei- Sialua (ar-s): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK53T thuộc xã Ea Knốp, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 3 hạ 0,17m so với tháng 02.
Tầng chứa nước khe nứt trong đá magma xâm nhập (g): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK68T thuộc xã Ea H'leo, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 3 hạ 1,25m so với tháng 02.
3. Dự báo nguồn nước mặt
Theo số liệu dự báo mưa từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho thấy trong tháng 4 năm 2026, khu vực Cao nguyên Trung Bộ phổ biến từ 80- 150mm, nhiệt độ trung bình các khu vực trên phạm vi toàn quốc phổ biến ở mức thấp xấp xỉ so với TBNN cùng thời kỳ.
Dựa theo nhận định trên kết hợp với số liệu mưa dự báo từ vệ tinh, dự báo tổng lượng tài nguyên nước nội sinh từ mưa trên các vùng quy hoạch thuộc LVS Srê Pốk trong tháng 4 năm 2026 dao động trong khoảng 210,6 - 263,2 triệu m3, trong đó cao nhất tại vùng Thượng Ea Krông Nô có tổng lượng dự báo khoảng 77,9 - 97,4 triệu m3, thấp nhất tại vùng Ia Đrăng khoảng 3,6 - 4,5 triệu m3.
4. Dự báo nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 4 so với mực nước quan trắc tháng 3 có xu thế dâng, có 1/2 công trình mực nước dâng, 1/2 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước dâng từ 0,05m đến 0,5m tập trung ở xã Quảng Phú, tỉnh Lâm Đồng.
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 4 so với mực nước quan trắc tháng 3 không có xu thế rõ ràng, có 5/10 công trình mực nước dâng, 5/10 công trình mực nước hạ. Mực nước dâng từ 0,5m đến 2,0m tập trung ở xã Đức Lập, xã Cư Jút của tỉnh Lâm Đồng; xã Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk và mực nước hạ từ 0,5m đến 2,0m tập trung ở xã Cuôr Đăng, xã Ea Drăng, xã Pơng Drang của tỉnh Đắk Lắk .
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 4 so với mực nước quan trắc tháng 3 có xu thế hạ, có 15/23 công trình mực nước hạ, 7/23 công trình mực nước dâng và 1/23 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước hạ từ 4,0m đến 6,0m tập trung ở xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk và mực nước dâng từ 4,0m đến 6,0m tập trung ở xã Đắk Mil, tỉnh Lâm Đồng.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Dự báo diễn biến mực nước trung bình tháng 4 tại công trình LK52T có xu thế dâng từ 0,05 đến 0,2m so với mực nước quan trắc tháng 3.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Jura dưới - giữa (j1-2): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 4 so với mực nước quan trắc tháng 3 có xu thế hạ, có 5/6 công trình mực nước hạ, 1/6 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước hạ từ 0,5m đến 2,0m tập trung ở xã Buôn Đôn, xã Ea Súp của tỉnh Đắk Lắk.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei- Sialua (ar-s): Dự báo diễn biến mực nước trung bình tháng 4 tại công trình LK53T có xu thế dâng hạ không đáng kể so với mực nước quan trắc tháng 3.
Tầng chứa nước khe nứt trong đá magma xâm nhập (g): Dự báo diễn biến mực nước trung bình tháng 4 tại công trình LK68T có xu thế hạ từ 0,2 đến 0,5m so với mực nước quan trắc tháng 3.
3. Đề xuất, kiến nghị
Đối với tài nguyên nước mặt:
Tổng lượng nước mặt tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên trong tháng 3 năm 2026 khoảng 43,5 triệu m3, giảm khoảng 18,6 triệu m3 so với tháng trước. Các thông số chất lượng nước mặt tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên trên sông Ea Krông Nô thuộc cột A theo QCVN 08:2023/BTNMT. Cần có biện pháp để duy trì chất lượng nguồn nước như hiện tại.
Tổng lượng tài nguyên nước nội sinh từ mưa trên các vùng quy hoạch thuộc LVS Srê Pốk trong tháng 4 năm 2026 vào khoảng 210,6 đến 263,2 triệu m3, trong đó cao nhất tại vùng Thượng Ea Krông Nô có tổng lượng dự báo khoảng 77,9 đến 97,4 triệu m3, thấp nhất tại vùng Ia Đrăng khoảng 3,6 đến 4,5 triệu m3. Kết quả tính toán cân bằng nguồn nước trên lưu vực sông Srê Pốk cho thấy, trong tháng 4 năm 2026, lưu vực không xảy ra tình trạng thiếu nước, cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước.
Đối với tài nguyên nước dưới đất:
Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực xã Cư Jút, tỉnh Lâm Đồng.
Đa số các thông số chất lượng nước trên lưu vực sông nằm trong GTGH bản theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, β(qp), j1-2, ar-s, g. Các thông số vượt bao gồm Amoni, Mangan, Fluoride.