Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước dưới đất năm trong Thành phố Hải Phòng được biên soạn hàng năm để cung cấp các thông tin về mực nước, chất lượng nước dưới phục vụ các mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định pháp luật..
Thành phố Hải Phòng là một thành phố thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình có diện tích tự nhiên là 3.194,7 km2. Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nội dung chính của bản tin năm bao gồm: Thông báo mực nước dưới đất trung bình năm, chất lượng nước năm 2025 và dự báo mực nước dưới đất năm tiếp theo tại các tầng chứa nước, đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình năm, chất lượng nước trong phạm vi 20 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.
1. Hiện trạng mực nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh)
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen trên (qh2): Trong phạm vi thành phố, mực nước trung bình năm 2025 hạ so với năm 2024. Giá trị dâng cao nhất là 0,05m tại phường Dương Kinh (Q.165) và giá trị hạ thấp nhất là 0,46m tại xã Đại Sơn (Q.147). Mực nước trung bình năm nông nhất là -0,13m tại phường Dương Kinh (Q.165) và trung bình năm sâu nhất là -2,22m tại xã Đại Sơn (Q.147).
Sơ đồ diễn biến mực nước lớp qh2
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen dưới (qh1): Trong phạm vi thành phố, mực nước trung bình năm 2025 dâng hạ không đáng kể so với năm 2024. Giá trị dâng cao nhất là 0,56m tại phường Nhị Chiểu (Q.143) và giá trị hạ thấp nhất là 0,36m tại phường Kiến An (Q.164a). Mực nước trung bình năm nông nhất là -0,05m tại phường Nhị Chiểu (Q.143) và trung bình năm sâu nhất là -12,14m tại phường Kiến An (Q.164a).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp)
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trên (qp2): Theo kết quả quan trắc tại công trình Q.131a thuộc xã Thanh Miện, mực nước trung bình năm 2025 dâng hạ không đáng kể so với năm 2024.
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen dưới (qp1): Trong phạm vi thành phố, mực nước trung bình năm 2025 hạ so với năm 2024. Giá trị hạ thấp nhất là 0,81m tại phường An Dương (Q.167a)
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Theo kết quả quan trắc tại công trình Q.149 thuộc xã Tuệ Tĩnh, mực nước trung bình năm 2025 hạ 0,1m so với năm 2024.
Tầng chứa nước karst trong trầm tích carbonat Carbon - Pecmi (c-p): Theo kết quả quan trắc tại công trình Q.143a thuộc phường Nhị Chiểu, mực nước trung bình năm 2025 dâng 0,78m so với năm 2024.
Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích biến chất Ordovic trên - Silur (o3-s): Theo kết quả quan trắc tại công trình Q.164b phường Kiến An, mực nước trung bình năm 2025 hạ 0,48m so với năm 2024.
2. Dự báo nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh)
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen trên (qh2): Mực nước trung bình các quý năm 2026 nhìn chung có xu thế dâng so với cùng kỳ quý năm trước, dao động khoảng 0,1-0,3m.
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen dưới (qh1): Mực nước trung bình các quý năm 2026 nhìn chung có xu thế dâng so với cùng kỳ quý năm trước, dao động khoảng 0,1-0,4m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp)
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trên (qp2): Mực nước trung bình các quý Năm 2026 nhìn chung có xu thế hạ so với cùng kỳ quý năm trước, dao động khoảng 0,2-0,8m.
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen dưới (qp1): Mực nước trung bình các quý năm 2026 nhìn chung có xu thế dâng so với cùng kỳ quý năm trước, dao động khoảng 0,1-0,3m
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Mực nước trung bình các quý năm 2026 nhìn chung có xu thế dâng so với cùng kỳ quý năm trước, dao động khoảng 0,3-0,4m
Tầng chứa nước karst trong trầm tích carbonat Carbon - Pecmi (c-p): Mực nước trung bình các quý năm 2026 nhìn chung có xu thế dâng so với cùng kỳ quý năm trước, dao động khoảng 0,3-0,4m.
Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích biến chất Ordovic trên - Silur (o3-s): Mực nước trung bình các quý năm 2026 nhìn chung có xu thế hạ so với cùng kỳ quý năm trước, dao động khoảng 0,5-0,9m.
3. Cảnh báo tài nguyên nước dưới đất
Theo Điều 32 của Nghị định 53/2024/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất, trong Thành phố Hải Phòng thời điểm hiện tại chưa có công trình nào có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo.
4. Đề xuất, kiến nghị
Hiện tại, trên phạm vi Thành phố Hải Phòng chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trong thành phố và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.
Đa số các thông số chất lượng nước trong Thành phố nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước Holocen (qh), Pleistocen (qp). Các thông số vượt bao gồm độ mặn (TDS), Mangan, Arsenic và Amoni. Một số khu vực đáng lưu ý như sau:
+ Tầng qh: Độ mặn vượt lớn nhất tại xã Đại Sơn (Q.148); Mangan vượt lớn nhất tại phường An Phong (Q.168); Chì, Amoni vượt lớn nhất tại phường Nhị Triểu (Q.143);
+ Tầng qp: Độ mặn vượt tại xã Hà Tây (Q.145a); Mangan, Amoni vượt tại xã Đại Sơn (Q.148a).
Đề nghị các cơ quan chức năng ở trung ương và địa phương:
• Rà soát, cập nhật thông tin chất lượng nước tại các khu vực trên;
• Kịp thời ban hành cảnh báo và hướng dẫn người dân sử dụng nước an toàn.