Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Lưu Vực Sông Hồng - Thái Bình Năm 2026

Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo nguồn nước năm trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình được biên soạn hàng năm để cung cấp các thông tin về tổng lượng nước nội sinh tại các tiểu vùng dự báo; mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định pháp luật.

Lưu vực sông Hồng – Thái Bình là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm 15 tỉnh, thành phố với tổng diện tích là 88.860 km2. Mùa mưa trên lưu vực diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nội dung chính của bản tin năm bao gồm: - Dự báo tổng lượng nước nội sinh, tổng lượng nước có thể khai thác sử dụng và cảnh báo nguy cơ thiếu nước trong năm 2026 trên phạm vi 05 vùng dự báo: sông Đà, sông Thao, sông Lô - Gâm, sông Cầu - Thương, đồng bằng sông Hồng.

1. Dự báo nguồn nước mặt

Căn cứ theo số liệu dự báo tổng lượng mưa từ Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn quốc gia kết hợp với dữ liệu dự báo mưa vệ tinh và kết quả dòng chảy dự báo từ dự án CTCN1, chúng tôi đã tiến hành phân tích, tính toán, dự báo tổng lượng nước mặt nội sinh đến 05 vùng thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình như sau:

 

2. Dự báo nguồn nước dưới đất

2.1.Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh):

  1. Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen trên (qh2): Diễn biến mực nước dưới đất dự báo năm 2026 có xu thế dâng so với mực nước quan trắc năm 2025 với 25/40 công trình mực nước dâng, 12/40 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 3/40 công trình mực nước hạ. Mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0m xuất hiện ở khu vực thành phố Hà Nội. Mực nước hạ từ 0,2 đến 0,5m xuất hiện rải rác ở khu vực tỉnh Ninh Bình và thành phố Hà Nội.

Sơ đồ dự báo mực nước LCN qh2

  1. Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen dưới (qh1): Diễn biến mực nước dưới đất dự báo năm 2026 có xu thế dâng so với mực nước quan trắc năm 2025 với 14/23 công trình mực nước dâng, 7/23 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 3/23 công trình mực nước hạ. Mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0 m phân bố tại khu vực thành phố Hà Nội. Mực nước hạ từ 0,2 đến 0,5m xuất hiện rải rác ở khu vực TP. Hà Nội, tỉnh Ninh Bình.

2.2. Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp)

 a. Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trên (qp2): Diễn biến mực nước dưới đất dự báo năm 2026 có xu thế dâng so với mực nước quan trắc năm 2025 với 10/14 công trình mực nước dâng và 4/14 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước dâng từ 1,0 đến 2,0m xuất hiện ở khu vực thành phố Hà Nội.

b. Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen dưới (qp1): Diễn biến mực nước dưới đất dự báo năm 2026 có xu thế dâng so với mực nước quan trắc với 46/62 công trình mực nước dâng, 11/62 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 6/62 công trình mực nước hạ. Mực nước dâng từ 1,0 đến 2,0m xuất hiện ở khu vực tỉnh Phú Thọ. Mực nước hạ từ 0,5 đến 1,0m xuất hiện ở khu vực tỉnh Bắc Ninh.  

2.3. Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen: Diễn biến mực nước dưới đất dự báo năm 2026 có xu thế dâng so với mực nước quan trắc năm 2025 với 7/12 công trình mực nước dâng và 2/12 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0m xuất hiện ở khu vực thành phố Hà Nội.

2.4. Tầng chứa nước khe nứt trong các trầm tích lục nguyên Trias giữa - trên (t2-3): Diễn biến mực nước dưới đất dự báo năm 2026 so với mực nước quan trắc năm có xu thế dâng tại tỉnh Bắc Ninh.

2.5. Tầng chứa nước karst trong trầm tích Trias giữa (t2): Diễn biến mực nước dưới đất dự báo năm 2026 so với mực nước quan trắc năm 2025 có 1/2 công trình mực nước hạ và 1/2 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước hạ từ 0,05 đến 0,2m tập trung ở tỉnh Ninh Bình.

2.6. Tầng chứa nước karst trong trầm tích carbonat Carbon - Pecmi (c-p): Diễn biến mực nước dưới đất dự báo năm 2026 so với mực nước quan trắc năm 2025 có có 1/2 công trình mực nước dâng và 1/2 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước dâng từ 0,5 đến 1,0m tập trung tại thành phố Hải Phòng.

2.7. Tầng chứa nước khe nứt trong đá trầm tích biến chất Ordovic trên - Silur (o3-s): Diễn biến mực nước dưới đất dự báo năm 2026 so với mực nước quan trắc năm 2025 có xu thế hạ tại thành phố Hải Phòng.

3. Đề xuất, kiến nghị

Đối với tài nguyên nước mặt:

Trong năm 2026, tổng tài nguyên nước nội sinh của các vùng dự báo trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình có xu thế xấp xỉ so với trung bình nhiều năm đạt khoảng 128,2 tỷ m3. Lượng nước mặt này cơ bản đáp ứng được nhu cầu khai thác sử dụng trên lưu vực nên không xảy ra hiện tượng thiếu nước.

Việc phân bổ hài hòa nguồn nước cho các đối tượng sử dụng nước sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 21 Thông tư 04/2020/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh. Mặt khác, vẫn cần giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước thông qua các quy định tại Thông tư 17/2021/TT-BTNMT Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

Đối với tài nguyên nước dưới đất:

Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực phường Cầu Giấy - TP Hà Nội; xã Ninh Cường, tỉnh Ninh Bình.

Đa số các thông số chất lượng nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước Holocen (qh), Pleistocen (qp). Các thông số vượt chủ yếu bao gồm độ mặn, Mangan, Arsenic, Chì và Amoni. Một số khu vực đáng chú ý gồm:

+ Tầng qh: Mangan lớn nhất tại phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (Q.115); Arsenic, Amoni lớn nhất tại công trình xã Đại Sơn, TP. Hải Phòng (Q.146); Chì lớn nhất tại phường Phù Vân, tỉnh Ninh Bình (Q.83).

+ Tầng qp: Mangan, Arsenic, Chì và Amoni vượt lớn nhất tại các điểm ở TP. Hà Nội, Phú Thọ, Quảng Ninh, Ninh Bình như tại các công trình Q.120a, Q.83b, Q.8, Q.82M1, Q.87b, Q.158a, Q.83b.

Đề nghị các cơ quan chức năng ở trung ương và địa phương:

• Rà soát, cập nhật thông tin chất lượng nước tại các khu vực trên;

• Kịp thời ban hành cảnh báo và hướng dẫn người dân sử dụng nước an toàn.

TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM
1769508086-JNp5gt5zPP.pdf