Chủ động quản lý nguồn nước bằng kịch bản

Vận hành kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông giúp chuyển từ bị động ứng phó sang chủ động điều hành, dựa trên dữ liệu để phân bổ nguồn nước hợp lý, hiệu quả.

 

Kịch bản nguồn nước là căn cứ quản lý, điều hành
 

Từ năm 2024, lần đầu Việt Nam công bố kịch bản nguồn nước trên các lưu vực sông lớn, tạo cơ sở để chuyển từ quản lý bị động sang điều hành chủ động trên nền tảng dữ liệu. Kịch bản không chỉ là công cụ dự báo kỹ thuật mà là căn cứ phục vụ chỉ đạo, điều hành thống nhất từ trung ương đến địa phương, đưa tài nguyên nước vào khuôn khổ quản trị có kiểm soát, có ngưỡng cảnh báo và có phương án ứng phó cụ thể.
 

Theo quy định, kịch bản phải đánh giá đầy đủ hiện trạng nguồn nước, đồng thời dự báo xu thế mưa, dòng chảy, trữ lượng trong các hồ chứa lớn, mực nước dưới đất và nhu cầu khai thác, sử dụng nước của các ngành. Trên cơ sở đó, xác định trạng thái nguồn nước và đề xuất các giải pháp điều hòa, phân phối phù hợp theo từng cấp độ.

Kịch bản nguồn nước là căn cứ phục vụ chỉ đạo, điều hành thống nhất từ trung ương đến địa phương, đưa tài nguyên nước vào khuôn khổ quản trị có kiểm soát. Ảnh: NNMT.

Điểm mới cốt lõi là việc phân định nguồn nước theo ba trạng thái: bình thường, thiếu nước và thiếu nước nghiêm trọng. Cách tiếp cận này cho phép nhận diện sớm rủi ro, không chỉ ở quy mô toàn lưu vực mà đến từng tiểu lưu vực, tiểu vùng, hồ chứa lớn và khu vực có nhu cầu sử dụng nước tập trung. Qua đó, công tác điều hành chuyển từ xử lý tình huống sang điều hành theo kịch bản; từ phản ứng bị động sang chủ động kiểm soát rủi ro; từ phân bổ bình quân sang phân bổ có ưu tiên, có điều tiết theo mức độ thiếu hụt thực tế. Kịch bản vì vậy không chỉ “mô tả” nguồn nước, mà trực tiếp dẫn dắt quyết định quản lý, bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và hài hòa lợi ích giữa các ngành, các vùng.

 

Thực tiễn mùa cạn 2024-2025 cho thấy hướng đi này là đúng. Lượt kịch bản đầu tiên được xây dựng cho 8 trong 16 lưu vực sông lớn, và các nhận định nhìn chung phù hợp với diễn biến thực tế.

 

Trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình, việc lấy nước phục vụ gieo cấy lúa vụ Đông Xuân 2024-2025 tại khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ đã bám sát mức khuyến nghị của kịch bản. Các đơn vị điện lực và vận hành hệ thống điện cũng xây dựng kế hoạch xả nước hồ chứa thủy điện phù hợp hơn, qua đó góp phần tiết kiệm nước và nâng cao hiệu quả phát điện trong mùa cạn năm 2025. Ở những nơi xảy ra hạn hán, thiếu nước cục bộ, phần lớn đều nằm trong phạm vi đã được cảnh báo sớm.
 

Không chỉ tạo hiệu quả ở cấp lưu vực, kịch bản còn thúc đẩy thay đổi trong tổ chức thực hiện tại địa phương. Lai Châu đã ban hành kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho giai đoạn từ tháng 12/2024 đến tháng 6/2025 trên cơ sở kịch bản lưu vực sông Hồng - Thái Bình. Hay Bến Tre xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo kịch bản lưu vực sông Cửu Long.

 

Đáng chú ý, theo số liệu của Cục Quản lý tài nguyên nước, đến tháng 6/2026, đã có 22 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch sử dụng nước phù hợp với các kịch bản nguồn nước được công bố. Những kết quả đó cho thấy kịch bản nguồn nước không còn là tài liệu tham khảo, mà đã trở thành căn cứ quản lý và điều hành. Từ đây, tư duy quản trị nước đang chuyển từ ứng phó riêng lẻ sang phối hợp liên ngành, từ khai thác theo nhu cầu đơn phương sang phân bổ theo khả năng thực tế của nguồn nước.

 

Nâng chất lượng dữ liệu, độ chi tiết và tổ chức thực thi
 

Kết quả bước đầu là tích cực. Tuy nhiên, kịch bản nguồn nước vẫn là công cụ mới, chưa đủ độ sâu để trở thành nền tảng điều hành an ninh nước. Vấn đề không nằm ở việc đã có kịch bản, mà ở chỗ kịch bản đã đủ chính xác, đủ chi tiết và đủ sức dẫn dắt quyết định hay chưa.

 

Vì vậy, theo ông Ngô Mạnh Hà, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, để nâng tầm công cụ này, cần tập trung xử lý đồng thời ba điểm nghẽn cốt lõi: dữ liệu, độ chi tiết và tổ chức thực thi.

Kịch bản cần được chi tiết hóa đến cấp tiểu lưu vực, tiểu vùng và các khu vực trọng điểm sử dụng nước. Ảnh: NNMT.

Trước hết, dữ liệu là điều kiện tiên quyết. Nếu dữ liệu thiếu, chậm hoặc không tin cậy, kịch bản sẽ chỉ dừng ở mức tham khảo. Do đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu tài nguyên nước thống nhất, kết nối liên thông và cập nhật gần thời gian thực; tích hợp đầy đủ dữ liệu khí tượng thủy văn, mưa, dòng chảy, mực nước hồ chứa, vận hành thủy điện, công trình thủy lợi, khai thác nước, nước dưới đất, chất lượng nước và xâm nhập mặn. Đồng thời, dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và chủ công trình phải được chuẩn hóa, tự động hóa truyền nhận và kiểm soát chặt chẽ về độ tin cậy.
 

Tiếp đến là độ chi tiết của kịch bản. Phân tích ở quy mô toàn lưu vực là cần thiết nhưng chưa đủ, bởi các điểm nghẽn thường nằm ở quy mô nhỏ hơn. Một tiểu lưu vực, một cụm hồ chứa hoặc một khu vực khai thác tập trung có thể trở thành “điểm thiếu nước” dù tổng thể lưu vực vẫn ở trạng thái bình thường. Do đó, kịch bản cần được chi tiết hóa đến cấp tiểu lưu vực, tiểu vùng và các khu vực trọng điểm sử dụng nước; đồng thời gắn chặt với vận hành hồ chứa, điều tiết liên hồ và phân bổ nước theo nhu cầu thực tế. Chỉ khi đi đến đúng “điểm nghẽn”, kịch bản mới có giá trị điều hành.

 

Cuối cùng là tổ chức thực thi - khâu quyết định hiệu quả của kịch bản. Kịch bản chỉ phát huy tác dụng khi được tích hợp trực tiếp vào quy trình điều hành của các bộ, ngành và địa phương, gắn với trách nhiệm cụ thể và cơ chế phối hợp rõ ràng. Cần thiết lập cơ chế điều hành theo trạng thái nguồn nước, trong đó mỗi cấp độ tương ứng với các giải pháp bắt buộc về vận hành hồ chứa, phân bổ nước, ưu tiên sử dụng và kiểm soát khai thác. Đồng thời, phải tăng cường giám sát, đánh giá và cập nhật kịch bản theo diễn biến thực tế, bảo đảm kịch bản không phải là tài liệu tĩnh mà là công cụ vận hành linh hoạt, liên tục được hiệu chỉnh.

 

Trong thời gian tới, lãnh đạo Cục Quản lý tài nguyên nước khẳng định: Khi dữ liệu được kết nối đồng bộ, mô hình dự báo được cập nhật liên tục, trách nhiệm thực thi được phân định rõ và quyết định điều hành được đưa ra kịp thời, kịch bản nguồn nước sẽ vượt ra khỏi vai trò ứng phó ngắn hạn. Khi đó, kịch bản sẽ trở thành một trụ cột của hệ thống quản trị tài nguyên nước quốc gia, bảo đảm cân bằng nhu cầu giữa sinh hoạt, sản xuất, năng lượng và môi trường, ngay cả trong những tình huống bất định nhất.

 

Định hướng giai đoạn 2026 - 2027, Bộ sẽ tiếp tục công bố kịch bản mùa cạn cho 13 trên 16 lưu vực sông, bổ sung lần đầu cho 5 lưu vực sông là sông Cả, sông Ba, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc và sông Vu Gia - Thu Bồn.

nongnghiepmoitruong.vn