Không để khoảng trống dữ liệu khi di chuyển trạm quan trắc

Không để khoảng trống dữ liệu khi di chuyển trạm quan trắc

Luật Tài nguyên nước 2023 bổ sung quy định về di chuyển, thay đổi vị trí, giải thể trạm quan trắc nước dưới đất, bảo đảm dữ liệu liên tục, đúng quy hoạch, trách nhiệm.

Chuẩn hóa mạng quan trắc nước dưới đất

Quan trắc nước dưới đất là một trong những công cụ quan trọng để theo dõi diễn biến mực nước, chất lượng nước, nhận diện nguy cơ suy giảm, ô nhiễm, nhiễm mặn và sụt lún đất. Vì vậy, việc di chuyển, thay đổi vị trí hoặc giải thể trạm quan trắc không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà liên quan trực tiếp đến tính liên tục của dữ liệu và hiệu quả quản lý nguồn nước.

Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã bổ sung cơ sở pháp lý đối với việc di chuyển, thay đổi vị trí và giải thể trạm quan trắc tài nguyên nước dưới đất, đồng thời giao cơ quan quản lý chuyên ngành quy định cụ thể việc thực hiện. Trên cơ sở đó, ngày 16/5/2024, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 05/2024/TT-BTNMT, quy định chi tiết các trường hợp, nguyên tắc, trình tự thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Luật Tài nguyên nước năm 2023 bổ sung cơ sở pháp lý đối với việc di chuyển, thay đổi vị trí và giải thể trạm quan trắc tài nguyên nước dưới đất. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Luật Tài nguyên nước năm 2023 bổ sung cơ sở pháp lý đối với việc di chuyển, thay đổi vị trí và giải thể trạm quan trắc tài nguyên nước dưới đất. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Theo quy định này, việc điều chỉnh vị trí trạm phải được xem xét trên cơ sở yêu cầu chuyên môn, quy hoạch mạng quan trắc và điều kiện thực tế. Trạm có thể phải di chuyển khi đất đặt trạm bị thu hồi, công trình hư hỏng không còn đáp ứng yêu cầu hoặc vị trí hiện tại không còn phù hợp do tác động của tự nhiên và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, yêu cầu xuyên suốt là thay đổi vị trí nhưng không làm gián đoạn nhiệm vụ quan trắc. Vị trí mới phải bảo đảm tiếp tục theo dõi đúng tầng chứa nước, có điều kiện địa chất thủy văn phù hợp và duy trì khả năng so sánh với chuỗi số liệu đã được tích lũy trước đó.

Đối với trường hợp giải thể, việc thực hiện cũng phải có căn cứ rõ ràng, bảo đảm không tạo khoảng trống trong mạng quan trắc. Các giếng không còn sử dụng phải được xử lý theo quy định; dữ liệu, hồ sơ liên quan phải được lưu trữ, cập nhật vào hệ thống thông tin tài nguyên nước.

Điểm đáng chú ý là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh việc di chuyển trạm cũng được xác định rõ hơn. Trường hợp dự án đầu tư, xây dựng hoặc sử dụng đất ảnh hưởng đến vị trí trạm quan trắc, chủ thể có liên quan phải thực hiện trách nhiệm bồi thường, chi trả chi phí theo quy định.

Qua đó, chính sách mới không chỉ giải quyết tình huống phải di chuyển hoặc giải thể trạm, mà hướng tới mục tiêu lớn hơn là bảo đảm mạng quan trắc được vận hành ổn định, dữ liệu được duy trì liên tục và phục vụ hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ nước dưới đất.

Rà soát mạng lưới, phân rõ trách nhiệm quản lý

Trên cơ sở các quy định của Luật Tài nguyên nước 2023 và Thông tư số 05/2024/TT-BTNMT, công tác quản lý mạng quan trắc tài nguyên nước dưới đất tiếp tục được hoàn thiện theo hướng phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, liên tục của hệ thống quan trắc.

Theo quy định hiện hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức quản lý mạng quan trắc đối với các nguồn nước dưới đất có phạm vi liên tỉnh. UBND cấp tỉnh xây dựng, vận hành mạng quan trắc thuộc phạm vi địa phương, bảo đảm không trùng lặp với mạng do Trung ương quản lý.

Công tác đo mực nước và chiều sâu giếng quan trắc nước dưới đất. Ảnh: Tùng Đinh.

Công tác đo mực nước và chiều sâu giếng quan trắc nước dưới đất. Ảnh: Tùng Đinh.

Việc phân công này nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư, đồng thời hình thành mạng quan trắc có tính kết nối từ Trung ương đến địa phương. Trên cơ sở đó, từng trạm được rà soát về vị trí, tình trạng hoạt động và mức độ đáp ứng yêu cầu chuyên môn để xác định tiếp tục duy trì, di chuyển, thay đổi vị trí hay giải thể.

Đối với mạng quan trắc do Trung ương quản lý, cơ quan chuyên môn có trách nhiệm định kỳ kiểm tra, đánh giá hoạt động của các trạm và đề xuất phương án xử lý khi vị trí không còn phù hợp. Tại địa phương, Sở Nông nghiệp và Môi trường rà soát mạng lưới trên địa bàn, tham mưu UBND cấp tỉnh quyết định phương án đối với các trạm thuộc thẩm quyền.

Sau khi phương án được phê duyệt, việc di chuyển hoặc thay đổi vị trí phải tuân thủ yêu cầu kỹ thuật, bảo đảm duy trì nhiệm vụ quan trắc và cập nhật đầy đủ hồ sơ, dữ liệu. Chính quyền cơ sở đồng thời phối hợp bảo vệ công trình, quản lý khu vực đặt trạm và kịp thời phát hiện các hoạt động xây dựng, sử dụng đất có nguy cơ ảnh hưởng đến công trình quan trắc.

 

Yêu cầu này ngày càng quan trọng trong bối cảnh nhiều địa phương điều chỉnh quy hoạch, mở rộng đô thị, phát triển khu công nghiệp và đầu tư hạ tầng. Nếu vị trí trạm không được rà soát, bảo vệ từ sớm, nguy cơ chồng lấn với dự án phát triển hoặc mất điều kiện quan trắc ổn định có thể xảy ra.

Do đó, vị trí các trạm quan trắc cần được xem xét đồng bộ ngay trong quá trình lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội, thay vì chỉ xử lý khi phát sinh yêu cầu di chuyển.

Địa phương từng bước chuẩn hóa mạng quan trắc

Thực tế cho thấy nhiều địa phương đang rà soát, hoàn thiện mạng quan trắc nước dưới đất theo hướng tăng tính tự động, liên tục và nâng cao khả năng sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý.

Tại TP.HCM, chương trình quan trắc tài nguyên và môi trường năm 2026 được xây dựng trên cơ sở rà soát lại mạng lưới sau quá trình sắp xếp địa giới. Thành phố tiếp tục duy trì quan trắc nước dưới đất, đồng thời yêu cầu bảo đảm chuỗi số liệu tại các vị trí chưa hoàn thiện trạm tự động.

Điều này cho thấy quá trình điều chỉnh, sắp xếp lại mạng quan trắc phải đi kèm giải pháp chuyển tiếp phù hợp, không để phát sinh khoảng trống dữ liệu trong thời gian xây dựng hoặc thay thế trạm.

Tại Hà Nội, Thành phố đang tăng cường đầu tư các trạm quan trắc tự động, trong đó có quan trắc nước dưới đất, nhằm nâng cao khả năng theo dõi thường xuyên, cảnh báo và hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành.

Hà Nội tăng cường đầu tư các trạm quan trắc tự động, trong đó có quan trắc nước dưới đất. Ảnh: Việt Anh.

Hà Nội tăng cường đầu tư các trạm quan trắc tự động, trong đó có quan trắc nước dưới đất. Ảnh: Việt Anh.

Trong khi đó, Đồng Nai duy trì hệ thống quan trắc mực nước và chất lượng nước dưới đất tại nhiều công trình. Kết quả quan trắc được sử dụng để nhận diện các khu vực có dấu hiệu suy giảm mực nước hoặc chất lượng nước không bảo đảm, từ đó phục vụ cảnh báo và quản lý hoạt động khai thác.

Thực tiễn tại các địa phương cho thấy yêu cầu hiện nay không chỉ là duy trì số lượng trạm, mà quan trọng hơn là trạm phải được đặt đúng vị trí, hoạt động ổn định, dữ liệu được thu thập liên tục và thực sự phục vụ công tác quản lý nguồn nước.

Tiếp tục tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện

Theo ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, dù khung pháp lý đã ngày càng hoàn thiện, quá trình triển khai thực tế vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ.

Trước hết là quỹ đất dành cho trạm quan trắc nước dưới đất. Tại các khu vực đô thị hóa nhanh, việc lựa chọn vị trí vừa phù hợp về địa chất thủy văn, vừa ổn định lâu dài không dễ. Vì vậy, địa phương cần chủ động rà soát, bố trí quỹ đất và tính đến vị trí trạm ngay trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Bên cạnh đó, cần bảo đảm tính liên tục của dữ liệu trước và sau khi di chuyển trạm. Vị trí mới phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, đồng thời có phương án đối chiếu, kiểm chứng và nối tiếp chuỗi số liệu để không ảnh hưởng đến việc đánh giá diễn biến nước dưới đất.

Ông Nguyễn Minh Khuyến cũng cho rằng, chi phí di chuyển cần được xác định đầy đủ, từ khảo sát vị trí mới, xây dựng, lắp đặt thiết bị đến vận hành thử. Đồng thời, mạng quan trắc Trung ương và địa phương cần tiếp tục được rà soát, tích hợp để tránh đầu tư trùng lặp nhưng vẫn bảo đảm phạm vi theo dõi cần thiết.

Dữ liệu sau khi điều chỉnh mạng lưới phải được cập nhật, kết nối vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia. Trọng tâm thời gian tới là rà soát mạng lưới, bảo vệ quỹ đất, chuẩn hóa quy trình và kết nối dữ liệu, bảo đảm các trạm hoạt động ổn định, cung cấp thông tin liên tục, tin cậy phục vụ quản lý nước dưới đất.

Nguyễn Thủy - Tùng Đinh