Ngày 22/10/2026, tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, Hội thảo “Kết quả lập danh mục nguồn nước mặt bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm” được tổ chức dưới sự chủ trì của TS. Nguyễn Ngọc Hà – Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia. Hội thảo thuộc nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc”.
Tham dự Hội thảo có đại diện các cơ quan, đơn vị liên quan, các chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên nước, môi trường cùng các đơn vị chuyên môn thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia

Ông Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia
Hội thảo được tổ chức nhằm báo cáo, trao đổi và đánh giá kết quả lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc; đồng thời tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học và các đơn vị chuyên môn để tiếp tục rà soát, hoàn thiện sản phẩm nhiệm vụ, bảo đảm cơ sở khoa học, tính thống nhất và khả năng ứng dụng trong thực tiễn quản lý tài nguyên nước.
1. Hội thảo tập trung đánh giá
- Kết quả xây dựng bộ tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá, phân loại nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt
- Kết quả tổng hợp lập danh mục nguồn nước mặt bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm trên 16 lưu vực sông
- Kết quả lập danh mục nguồn nước mặt bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm LVS
Sông Hồng – Thái Bình
- Kết quả lập danh mục nguồn nước mặt bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm LVS Đồng Nai
- Kết quả lập danh mục nguồn nước mặt bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm LVS Cửu Long


Quang cảnh hội nghị
2. Đánh giá thực trạng, nhận diện các nguồn nước cần ưu tiên quản lý
Nhiệm vụ được triển khai nhằm đánh giá thực trạng các nguồn nước mặt sông liên tỉnh trên phạm vi toàn quốc; xác định, phân loại các nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và làm rõ các nguyên nhân chủ yếu. Kết quả điều tra, đánh giá là cơ sở quan trọng để xây dựng danh mục nguồn nước cần quan tâm, phục vụ công tác quản lý, bảo vệ, phục hồi và sử dụng bền vững tài nguyên nước.
Tại Hội thảo, các đại biểu tập trung trao đổi về phạm vi, đối tượng điều tra; phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin; kết quả đánh giá, phân loại các nguồn nước theo từng trạng thái ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; đồng thời xem xét tính đầy đủ, thống nhất và khả năng kiểm chứng của các thông tin được sử dụng để lập danh mục.
Nội dung thảo luận chú trọng việc xác định vị trí, phạm vi các đoạn sông và nguồn nước có dấu hiệu bị tác động; đánh giá các biểu hiện suy giảm chất lượng nước, biến đổi chế độ dòng chảy và tình trạng thiếu hụt nguồn nước. Việc kết hợp số liệu quan trắc, thông tin thủy văn, dữ liệu khai thác và sử dụng nước với kết quả điều tra thực địa góp phần nâng cao tính khách quan, độ tin cậy của kết quả đánh giá.
Bên cạnh đó, các đại biểu xem xét những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, đặc biệt là yêu cầu đồng bộ hóa dữ liệu giữa các khu vực, bảo đảm tính thống nhất trong nhận diện và phân loại nguồn nước, cũng như xác định rõ nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các tác động đến tài nguyên nước.
3. Hoàn thiện danh mục, nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ tài nguyên nước
Trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ, việc lập danh mục nguồn nước mặt bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên phạm vi liên tỉnh và toàn quốc. Danh mục là cơ sở để nhận diện những khu vực cần tăng cường theo dõi, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, xem xét nhu cầu phục hồi nguồn nước và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với đặc điểm của từng lưu vực sông.
Thông qua các ý kiến trao đổi tại Hội thảo, nhóm thực hiện nhiệm vụ có cơ sở tiếp tục rà soát, cập nhật và hoàn thiện kết quả lập danh mục; làm rõ các thông tin về vị trí, phạm vi, đặc điểm và tình trạng của từng nguồn nước; đồng thời hoàn thiện hồ sơ, tài liệu chuyên môn theo yêu cầu.


Các ý kiến đóng góp cũng góp phần nâng cao tính khoa học, tính thống nhất và khả năng ứng dụng của sản phẩm nhiệm vụ, bảo đảm danh mục phản ánh sát thực trạng nguồn nước và đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh áp lực về chất lượng nước, nhu cầu khai thác, sử dụng nước và những biến động của chế độ thủy văn ngày càng đặt ra nhiều thách thức.
Hội thảo là hoạt động chuyên môn quan trọng trong quá trình hoàn thiện nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc”. Kết quả nhiệm vụ được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra, giám sát, quản lý và bảo vệ nguồn nước; tạo cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, hạn chế tình trạng cạn kiệt và hướng tới bảo đảm an ninh nguồn nước, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
4. Kết luận
Ông Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia chủ trì buổi Hội thảo đánh giá. Nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc” đã thực hiện rà soát, tổng hợp và đánh giá các nguồn nước thuộc 16 lưu vực sông liên tỉnh, liên quốc gia. Theo phụ lục tổng hợp hiện tại, phạm vi rà soát gồm 738 nguồn nước, trong đó có 701 sông, suối, kênh, rạch và 37 hồ. Nguồn số liệu được tổng hợp từ kết quả quan trắc, điều tra cơ bản, các nhiệm vụ, dự án có liên quan và kết quả điều tra, khảo sát bổ sung.
- Trên cơ sở đặc điểm thủy văn, hiện trạng khai thác, sử dụng nước, nguồn thải và mức độ đáp ứng của số liệu, các nguồn nước được phân đoạn và đánh giá về ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt. Đối với chất lượng nước, việc đánh giá sử dụng kết quả quan trắc và chỉ số CCME WQI; đối với số lượng nước, sử dụng các đặc trưng dòng chảy mùa kiệt, Q85%, chỉ số thiếu hụt dòng chảy và các thông tin liên quan đến khai thác, điều tiết nguồn nước. Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng đánh giá tổng hợp đã xác định trong báo cáo mẫu.
- Về ô nhiễm, cho thấy các nguồn nước được xác định tổng cộng 197 vị trí thuộc 46 nguồn nước sông, suối, kênh, rạch có ít nhất một vị trí được xác định ô nhiễm, tập trung tại 03 lưu vực: Hồng - Thái Bình (tại 38 vị trí thuộc 08 nguồn nước), Đồng Nai (tại 142 vị trí thuộc 23 nguồn nước) và Cửu Long (tại 17 vị trí thuộc 15 nguồn nước). - Về suy thoái, các nguồn nước bị suy thoái về chất lượng nước tập trung tại 03 lưu vực sông gồm 23 nguồn nước/28 đoạn với tổng chiều dài 639km: lưu vực sông Hồng - Thái Bình có 10 đoạn thuộc 07 nguồn nước với tổng chiều dài 462 km, lưu vực sông Đồng Nai có 01 đoạn thuộc 01 nguồn nước với chiều dài 26,9 km và lưu vực sông Cửu Long có 17 đoạn thuộc 15 nguồn nước với tổng chiều dài 150,1 km. Kết quả cho thấy suy thoái hiện nay chủ yếu gắn với suy giảm chất lượng nước tại các khu vực chịu áp lực từ nguồn thải, khai thác, sử dụng nước và khả năng trao đổi, pha loãng nước hạn chế.
- Về cạn kiệt, hiện chưa ghi nhận nguồn nước ở mức “Cạn kiệt”; một số nguồn được phân loại ở mức “Có nguy cơ cạn kiệt” hoặc ghi nhận ảnh hưởng của công trình điều tiết.
- Kết quả của Nhiệm vụ đã hình thành cơ sở dữ liệu, kết quả phân loại, Danh mục và bộ bản đồ các nguồn nước mặt bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt tỷ lệ 1:100.000, làm cơ sở phục vụ quản lý nhà nước, xác định nguồn nước ưu tiên và xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án phục hồi nguồn nước trong giai đoạn tiếp theo.
5. Kiến nghị
- Đối với các nguồn nước đã xác định bị ô nhiễm, suy thoái, cần tiếp tục rà soát, xác định nguyên nhân và nguồn gây tác động theo từng đoạn sông; tập trung kiểm soát nguồn thải, tăng cường thu gom, xử lý nước thải và kết hợp các giải pháp duy trì dòng chảy, tăng khả năng trao đổi và tự làm sạch của nguồn nước. Các giải pháp phục hồi chỉ 359 nên xây dựng cụ thể đối với các nguồn, đoạn nguồn nước đã có đủ cơ sở xác định tình trạng ô nhiễm, suy thoái hoặc cạn kiệt.
- Đối với các nguồn đang ở mức nguy cơ hoặc chưa đủ cơ sở kết luận, chưa đưa vào nhóm đối tượng phục hồi trực tiếp, mà trước hết cần tăng cường quan trắc, theo dõi và hoàn thiện chuỗi số liệu. Mạng quan trắc cần ưu tiên các vị trí đầu, giữa và cuối đoạn nguồn nước, trước và sau các khu vực tập trung nguồn thải, đồng thời tăng cường quan trắc trong mùa kiệt và các thời kỳ nhạy cảm.
- Tiếp tục cập nhật, chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý tài nguyên nước, môi trường, đơn vị quan trắc và các địa phương; định kỳ rà soát lại kết quả phân loại khi có đủ số liệu mới, bảo đảm Danh mục phản ánh đúng trạng thái thực tế của nguồn nước và làm cơ sở xác định chính xác các đối tượng cần ưu tiên phục hồi.