Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên tỉnh Đắk Lắk được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về số lượng, chất lượng nước mặt, mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.
Tỉnh Đắk Lắk là một tỉnh thuộc lưu vực sông Srê Pốk có diện tích tự nhiên là 18.096,4km2. Nội dung chính của bản tin tháng bao gồm: Thông báo số lượng, chất lượng nước mặt tháng 04 năm 2026 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên, trên sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh. Thông báo mực nước dưới đất tháng 04 năm 2026 và chất lượng nước mùa mưa năm 2025; dự báo mực nước dưới đất hai tháng tiếp theo tại các tầng chứa nước, đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 46 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Mực nước trung bình tháng 4 năm 2026 trên sông Ea Krông Nô tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên là 48665cm, tăng 11cm so với tháng trước, giảm 09cm so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 07cm so với tháng 4 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 48720cm (ngày 28/4/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 48630cm (ngày 02/4/2026).
Bảng 1. Kết quả quan trắc tài nguyên nước tháng 04 năm 2026
|
Trạm |
Yếu tố |
TBNN |
TB tháng trước |
Tháng 04 |
Tăng/giảm (-) % |
|
|
So với TBNN |
So với tháng trước |
|||||
|
Đức Xuyên |
Mực nước (cm) |
48658 |
48654 |
48665 |
0,01 |
0,02 |
|
Lưu lượng nước (m3/s) |
12,1 |
16,2 |
18,6 |
54,4 |
14,9 |
|
|
Tổng lượng nước (triệu m3) |
30,2 |
43,5 |
48,3 |
59,8 |
11,0 |
|
Mực nước trung bình tháng 4 năm 2026 trên sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh là 324cm, giảm 20cm so với tháng trước, giảm 16cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 03cm so với tháng 4 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 347cm (ngày 03/4/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 300cm (ngày 23/4/2026).
2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK51T thuộc xã Ea Kly mực nước trung bình tháng 4 hạ 0,09m so với tháng 3.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 có xu thế hạ so với tháng 3. Giá trị hạ thấp nhất là 0,49m tại phường Bình Kiến (QT3-PY). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,88m tại xã Xuân Lộc (QT1-PY) và sâu nhất là -10,13m tại phường Hòa Hiệp (QT8a-PY).
Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tầng qh
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 có xu thế hạ so với tháng 3. Giá trị hạ thấp nhất là 0,28m tại phường Phú Yên (QT4b-PY). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,21m tại phường Phú Yên (QT4b-PY) và sâu nhất là -10,31m tại phường Hòa Hiệp (QT8b-PY).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp):
Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 có xu thế hạ so với tháng 3. Giá trị hạ thấp nhất là 1,06m tại xã Cuôr Đăng (CB1-II). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,55m tại xã Krông Ana (LK76T) và sâu nhất là -21,88m tại xã Pơng Drang (LK71T).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 có xu thế hạ so với tháng 3. Giá trị hạ thấp nhất là 3,69m tại xã Ea Knuếc (C5o). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,15m tại phường Thành Nhất (LK48T) và sâu nhất là -24,77m tại phường Tân An (C15).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK52T thuộc xã Ea Kar mực nước trung bình tháng 4 hạ 0,09m so với tháng 3.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Jura dưới - giữa (j1-2): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 có xu thế hạ so với tháng 3. Giá trị hạ thấp nhất là 1,5m tại xã Buôn Đôn (LK25T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -4,97m tại xã Buôn Đôn (LK26T) và sâu nhất là -8,32m tại xã Ea Phê (C8o).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei- Sialua (ar-s): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 4 có xu thế hạ so với tháng 3. Giá trị hạ thấp nhất là 0,15m tại xã Ea Knốp (LK53T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,66m tại xã Ea Knốp (LK53T) và sâu nhất là -3,51m tại xã Ea Knốp (LK54T).
Tầng chứa nước khe nứt trong đá magma xâm nhập (g): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK68T thuộc xã Ea H'leo mực nước trung bình tháng 4 hạ 0,56m so với tháng 3.
3. Cảnh báo nguồn nước dưới đất
Theo khoản 18 điều 1 của Nghị định 23/2026/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất (từ 50% so với mực nước hạ thấp cho phép trở lên), trong tỉnh thời điểm hiện tại chưa có công trình nào có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo.
4. Đề xuất, kiến nghị
Đối với tài nguyên nước mặt: Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên trong tháng 4 năm 2026 khoảng 48,3 triệu m3, tăng khoảng 4,8 triệu m3 so với tháng trước, tại trạm An Thạnh khoảng 178,7 triệu m3, giảm khoảng 68,1 triệu m3 so với tháng trước.
Đa số các thông số chất lượng nước mặt tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên trên sông Ea Krông Nô và tại trạm An Thạnh trên sông Kỳ Lộ thuộc cột A, riêng thông số BOD5 thuộc cột B (trạm Đức Xuyên) theo QCVN 08:2023/BTNMT. Cần duy trì và có biện pháp xử lý kịp thời để cải thiện chất lượng nguồn nước
Đối với tài nguyên nước dưới đất: Hiện tại, trong phạm vi tỉnh Đắk Lắk chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trên địa bàn tỉnh và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.
Nước trong tỉnh thuộc loại nước nhạt, có dấu hiệu lợ phân bố ở tầng qp tại công trình QT4b-PY (phường Phú Yên) và mặn ở tầng qh tại công trình QT1-PY (xã Xuân Lộc).
Đa số các thông số chất lượng nước trong tỉnh nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước qh, qp, β(qp), j1-2, ar-s, g. Các thông số vượt bao gồm Amoni, Mangan, Fluoride.