Phỏng vấn: Quản lý tích trữ nước dưới đất – Giải pháp chiến lược cho an ninh nguồn nước và phát triển bền vững

Phỏng vấn: Quản lý tích trữ nước dưới đất – Giải pháp chiến lược cho an ninh nguồn nước và phát triển bền vững

Phóng viên (PV): Xin ông cho biết vì sao nhóm nghiên cứu lại lựa chọn chủ đề "Nghiên cứu xác lập luận cứ khoa học và thực tiễn trong quản lý tích trữ nước đa mục tiêu tại các tầng chứa nước dưới đất tăng khả năng sử dụng nước tuần hoàn" trong bối cảnh hiện nay?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Trong nhiều năm trở lại đây, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến tài nguyên nước. Biến đổi khí hậu, hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn, khai thác nước dưới đất quá mức và quá trình đô thị hóa nhanh đã khiến nhiều tầng chứa nước bị suy giảm cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ vẫn không ngừng tăng lên.

Thực tế đó đòi hỏi cần có những giải pháp quản lý tài nguyên nước theo hướng bền vững hơn. Việc nghiên cứu tích trữ nước trong các tầng chứa nước dưới đất không chỉ giúp tăng nguồn dự trữ nước mà còn tạo tiền đề cho việc sử dụng nước tuần hoàn, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Liên kết nguồn nước – Nền tảng phát triển bền vững cho Đồng bằng sông Cửu  Long

PV: Đề tài đặt ra những mục tiêu nghiên cứu trọng tâm nào?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Đề tài hướng tới xây dựng đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ quản lý hoạt động tích trữ nước dưới đất trên phạm vi cả nước. Cụ thể, nhóm nghiên cứu sẽ tổng hợp kinh nghiệm trong và ngoài nước, đánh giá điều kiện địa chất thủy văn của các tầng chứa nước, xây dựng hệ thống tiêu chí lựa chọn khu vực có khả năng tích trữ nước, đồng thời đề xuất các quy định kỹ thuật phục vụ quản lý nhà nước.

Ngoài ra, đề tài còn hướng đến việc thúc đẩy sử dụng hiệu quả các nguồn nước mưa, nước mặt và nước đã qua xử lý nhằm giảm áp lực khai thác nước dưới đất tự nhiên.

 

PV: Vì sao tích trữ nước dưới đất lại được xem là giải pháp có tính chiến lược trong quản lý tài nguyên nước?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: So với các hồ chứa trên mặt đất, các tầng chứa nước dưới đất có khả năng lưu giữ nước ổn định hơn, ít bị ảnh hưởng bởi quá trình bốc hơi, hạn chế ô nhiễm từ môi trường bên ngoài và có thể khai thác linh hoạt khi cần thiết.

Đặc biệt, trong điều kiện biến đổi khí hậu làm cho lượng mưa phân bố không đồng đều theo thời gian và không gian, việc tích trữ lượng nước dư thừa trong mùa mưa để sử dụng vào mùa khô sẽ góp phần bảo đảm nguồn nước ổn định, giảm thiểu các rủi ro do thiếu nước gây ra.

 

PV: Những nguồn nước nào có thể được sử dụng để bổ cập vào các tầng chứa nước?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Nguồn nước sử dụng để bổ cập khá đa dạng, bao gồm nước mưa được thu gom, nước mặt từ sông, hồ, kênh, suối và nước đã qua xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật.

Tuy nhiên, trước khi đưa vào tầng chứa nước, các nguồn nước đều phải được đánh giá nghiêm ngặt về chất lượng nhằm bảo đảm không gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất và không ảnh hưởng đến hệ sinh thái cũng như sức khỏe cộng đồng.

 

PV: Qua khảo sát của nhóm nghiên cứu, những khu vực nào của Việt Nam cần ưu tiên triển khai các giải pháp tích trữ nước?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Một số khu vực chịu tác động mạnh của hạn hán, xâm nhập mặn hoặc khai thác nước dưới đất quá mức như Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và các đảo ven biển đều là những địa bàn cần ưu tiên nghiên cứu.

Mỗi khu vực có điều kiện địa chất thủy văn khác nhau nên giải pháp công nghệ cũng cần được lựa chọn phù hợp thay vì áp dụng một mô hình chung cho tất cả.

 

PV: Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đã tham khảo những kinh nghiệm quốc tế nào?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Chúng tôi đã nghiên cứu khá nhiều mô hình của Úc, Hoa Kỳ, Hà Lan, Nhật Bản và một số quốc gia châu Âu.

Đặc biệt, công nghệ ASR (Aquifer Storage and Recovery) tại Úc đã chứng minh hiệu quả trong việc lưu trữ nước mưa và nước đã qua xử lý vào các tầng chứa nước để phục vụ cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu. Đây là những kinh nghiệm rất có giá trị để Việt Nam tham khảo, tuy nhiên việc áp dụng vẫn cần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện tự nhiên trong nước.

 

PV: Việt Nam đã có những mô hình thực tế nào liên quan đến bổ cập nhân tạo nước dưới đất?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm tại Tây Nguyên, Hưng Yên, Thái Bình, Quan Lạn, Buôn Ma Thuột, Đồng bằng sông Cửu Long...

Các mô hình này bước đầu cho thấy việc thu gom nước mưa hoặc nước mặt đưa xuống tầng chứa nước có thể làm tăng mực nước ngầm, cải thiện chất lượng nước và giảm nguy cơ thiếu nước trong mùa khô. Đây là những cơ sở thực tiễn rất quan trọng cho việc xây dựng các quy định kỹ thuật trong tương lai.

 

PV: Theo ông, việc tích trữ nước dưới đất sẽ mang lại những lợi ích kinh tế như thế nào?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Trước hết, giải pháp này giúp giảm chi phí đầu tư các công trình trữ nước quy mô lớn trên mặt đất. Đồng thời, nguồn nước được lưu giữ ổn định sẽ phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt một cách bền vững hơn.

Ngoài ra, việc giảm suy giảm nước dưới đất cũng góp phần hạn chế sụt lún nền đất, giảm thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng và giảm chi phí khắc phục các hậu quả do khai thác nước quá mức gây ra.

 

PV: Đề tài có ứng dụng công nghệ số trong nghiên cứu hay không?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Có. Hiện nay việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình số địa chất thủy văn, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước và các công nghệ phân tích hiện đại sẽ giúp đánh giá chính xác khả năng tích trữ nước tại từng khu vực.

Trong tương lai, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn cũng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc dự báo biến động nguồn nước và hỗ trợ ra quyết định quản lý.

 

PV: Theo ông, khó khăn lớn nhất khi triển khai các mô hình tích trữ nước dưới đất tại Việt Nam là gì?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Khó khăn lớn nhất hiện nay là sự khác biệt rất lớn về điều kiện địa chất thủy văn giữa các vùng miền. Không phải tầng chứa nước nào cũng phù hợp để tích trữ nước.

Bên cạnh đó, việc thiếu các quy định kỹ thuật thống nhất, hệ thống quan trắc còn hạn chế và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu, thử nghiệm cũng là những thách thức cần được giải quyết.

 

PV: Người dân và doanh nghiệp có thể tham gia vào quá trình này như thế nào?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Người dân có thể tham gia bằng việc thu gom và sử dụng nước mưa hợp lý, khai thác nước dưới đất đúng quy định và nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước.

Đối với doanh nghiệp, việc đầu tư các hệ thống tái sử dụng nước, xử lý nước thải đạt quy chuẩn và áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ góp phần giảm áp lực lên nguồn tài nguyên nước quốc gia.

 

PV: Ông kỳ vọng kết quả của đề tài sẽ mang lại những tác động gì trong thời gian tới?

Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài: Chúng tôi kỳ vọng kết quả nghiên cứu sẽ trở thành cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng các quy định kỹ thuật và chính sách quản lý tích trữ nước dưới đất trên phạm vi toàn quốc.

Xa hơn, đề tài sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước, bảo đảm an ninh nguồn nước, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước.

 

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông về những chia sẻ rất thiết thực!