Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên tỉnh Gia Lai được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về số lượng, chất lượng nước mặt, mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.
Gia Lai là một tỉnh nằm trên 4 lưu vực sông Sê San, Srê Pốk, Ba và Kôn – Hà Thanh có diện tích tự nhiên là 21.576,53km2. Nội dung chính của bản tin tháng bao gồm: Thông báo số lượng, chất lượng nước mặt tháng 03 năm 2026 trên sông Yayun tại trạm Ya Yun Hạ.Thông báo mực nước dưới đất tháng 03 năm 2026 và chất lượng nước mùa mưa năm 2025; dự báo mực nước dưới đất hai tháng tiếp theo tại các tầng chứa nước, đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 65 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Mực nước trung bình tháng 3 năm 2026 trên sông Ba A Yun tại trạm Ya Yun Hạ là 20776cm, giảm 05cm so với tháng trước, giảm 05cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 03cm so với tháng 3 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 20800cm (ngày 07/3/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20753cm (ngày 30/3/2026).
Bảng 1. Kết quả quan trắc tài nguyên nước tháng 03 năm 2026
|
Trạm |
Yếu tố |
TBNN |
TB tháng trước |
Tháng 03 |
Tăng/giảm (-) % |
|
|
So với TBNN |
So với tháng trước |
|||||
|
Yayun Hạ |
Mực nước (cm) |
20779 |
20781 |
20776 |
-0,014 |
-0,02 |
|
Lưu lượng nước (m3/s) |
10,3 |
11,3 |
9,9 |
-3,6 |
-12,3 |
|
|
Tổng lượng nước (triệu m3) |
27,6 |
27,4 |
26,6 |
-3,6 |
-2,9 |
|
2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q):
Mực nước dưới đất: Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 có xu thế hạ so với tháng 02. Giá trị hạ thấp nhất là 1,28m tại xã Phú Thiện (LK151T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,68m tại xã Phú Thiện (CB1-IV) và sâu nhất là -12,4m tại xã Ia Rsai (LK36aT).
Lưu lượng nước điểm lộ: Theo kết quả quan trắc tại công trình điểm lộ nước DL13 thuộc xã Phú Thiện lưu lượng nước trung bình tháng 3 giảm 0,12l/s so với tháng 02
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 có xu thế hạ so với tháng 02. Giá trị hạ thấp nhất là 0,07m tại phường Quy Nhơn Đông (QT8-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,13m tại phường Quy Nhơn Đông (QT8-BĐ) và sâu nhất là -2,28m tại xã Tuy Phước Đông (QT10-BĐ).
Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tầng qh
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 có xu thế dâng hạ không rõ ràng so với tháng 02. Giá trị hạ thấp nhất là 0,48m tại xã Đề Gi (QT1-BĐ) và giá trị dâng cao nhất là 0,39m tại phường An Nhơn Đông (QT5a-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,21m tại xã Tuy Phước Đông (QT4-BĐ) và sâu nhất là -12,87m tại phường Quy Nhơn Đông (QT3-BĐ).
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp)
Mực nước dưới đất: Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 có xu thế hạ so với tháng 02. Giá trị hạ thấp nhất là 2,06m tại phường An Phú (CB1-I). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,12m tại xã Biển Hồ (LK159T) và sâu nhất là -20,99m tại phường Thống Nhất (C3b).
Lưu lượng nước điểm lộ: Theo kết quả quan trắc tại công trình điểm lộ nước DL10 thuộc phường Hội Phú lưu lượng nước trung bình tháng 3 giảm 0,26l/s so với tháng 02.
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp):
Mực nước dưới đất: Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 có xu thế hạ so với tháng 02. Giá trị hạ thấp nhất là 1,61m tại xã Chư Păh (LK162T) và một công trình có mực nước dâng là 1,96m tại xã Chư Păh (C2o).
Lưu lượng nước điểm lộ: Trong phạm vi tỉnh, lưu lượng nước điểm lộ trung bình tháng 3 có xu thế giảm so với tháng 02. Giá trị giảm lớn nhất là 0,22l/s tại xã Ia Dơk (DL1). Lưu lượng nước điểm lộ trung bình tháng lớn nhất là 2,06l/s tại xã Chư Sê (DL11) và nhỏ nhất là 1,91l/s tại xã Ia Dơk (DL1).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 có xu thế hạ so với tháng 02. Giá trị hạ thấp nhất là 1,02m tại xã Phú Thiện (C7b) và một công trình có mực nước dâng là 0,4m tại phường An Nhơn Đông (QT5b-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,75m tại xã Ialy (LK59T) và sâu nhất là -16,87m tại xã Ialy (LK62T).
Tầng chứa nước khe nứt trong đá biến chất Arkei (ar): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 có xu thế dâng so với tháng 02. Giá trị dâng cao nhất là 0,23m tại phường An Nhơn (QT6b-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -4,1m tại phường An Nhơn (QT6b-BĐ) và sâu nhất là -4,73m tại xã Bình An (QT7b-BĐ).
3. Cảnh báo nguồn nước dưới đất
Theo khoản 18 điều 1 của Nghị định 23/2026/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất (từ 50% so với mực nước hạ thấp cho phép trở lên), trong tỉnh thời điểm hiện tại chưa có công trình nào có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo.
4. Đề xuất, kiến nghị
Đối với tài nguyên nước mặt: Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm Ya Yun Hạ trong tháng 3 năm 2026 khoảng 26,6 triệu m3, giảm khoảng 0,8 triệu m3 so với tháng trước. Các thông số chất lượng nước mặt tại trạm Ya Yun Hạ trên sông Ba A Yun thuộc cột A theo QCVN 08:2023/BTNMT. Cần có biện pháp để duy trì chất lượng nguồn nước hiện tại.
Đối với tài nguyên nước đưới đất: Hiện tại, trong phạm vi tỉnh Gia Lai chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trên địa bàn tỉnh và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.
Nước trong tỉnh thuộc loại nước nhạt, có dấu hiệu lợ phân bố ở tầng qp tại công trình QT4-BĐ (xã Tuy Phước Đông) và mặn ở tầng qh tại công trình QT10-BĐ (xã Tuy Phước Đông).
Đa số các thông số chất lượng nước trong tỉnh nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, qh, qp, n và ar. Các thông số vượt bao gồm Amoni, Fluoride, Mangan