Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia ưu tiên khảo sát, điều tra nguồn nước ngay tại 109 xã (16 tỉnh) có mức độ thiếu nước nặng.
Kết quả của nhiệm vụ điều tra này sẽ là cơ sở để lựa chọn nguồn nước, mô hình cấp nước và chuẩn bị đầu tư các công trình cấp nước sạch nông thôn giai đoạn 2026-2030. Về tiến độ, đến hết tháng 9/2026, công tác thu thập, rà soát tài liệu đã hoàn thành tại 109/109 xã, báo cáo chuẩn bị và kế hoạch khảo sát đã hoàn thành 102/109 xã, còn 7 xã đang thực hiện.
Hồ treo trên núi giải quyết vấn đề thiếu nước cho những khu vực khô hạn ở Cao Bằng. Ảnh: Khương Trung.
Ưu tiên 109 xã thiếu nước nặng
Trước thực trạng thiếu nước sinh hoạt vẫn diễn ra tại nhiều khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc đánh giá đầy đủ tiềm năng, khả năng khai thác và chất lượng các nguồn nước được xác định là cơ sở quan trọng để định hướng đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn.
Ông La Đức Dũng, Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia cho biết, trung tâm sẽ đảm nhận nhiệm vụ điều tra, khảo sát nhanh, đánh giá thực trạng nguồn nước phục vụ kế hoạch đầu tư phát triển công trình cấp nước sạch nông thôn và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030, theo Quyết định số 417/QĐ-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Trước mắt, nhiệm vụ tập trung khảo sát tại 109 xã thuộc 16 tỉnh có mức độ thiếu nước sinh hoạt nặng. Đây là các địa bàn được lựa chọn trên cơ sở rà soát số liệu do các địa phương cung cấp, đồng thời đáp ứng định hướng ưu tiên đầu tư cho vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực khan hiếm và khó khăn về nguồn nước.
Mục tiêu của đợt khảo sát là hình thành bộ số liệu khách quan, thống nhất về hiện trạng nguồn nước, qua đó xác định khu vực có tiềm năng nguồn nước tại từng xã, làm căn cứ lựa chọn nguồn cấp, mô hình cấp nước phù hợp và định hướng công tác tìm kiếm nguồn nước ở giai đoạn tiếp theo.
Cán bộ Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia làm nhiệm vụ khảo sát nguồn nước. Ảnh: Tùng Đinh.
Trong số các vùng được rà soát, Trung du và miền núi phía Bắc có số hộ thiếu nước lớn nhất, với 200.704 hộ, chiếm khoảng 37,9% tổng số hộ thiếu nước. Đây cũng là vùng có tỷ lệ hộ thiếu nước trên tổng số hộ được rà soát cao nhất, đạt 55,4%.
Những số liệu này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải đánh giá điều kiện nguồn nước tại các khu vực khó khăn, nhất là nơi người dân chưa được tiếp cận ổn định với công trình cấp nước sinh hoạt hoặc còn phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên có tính mùa vụ.
Tuy nhiên, phạm vi 109 xã được lựa chọn không đồng nghĩa với toàn bộ địa bàn thiếu nước trên cả nước. Đây là nhóm địa bàn được ưu tiên triển khai trước theo mức độ thiếu nước, trong khuôn khổ nhiệm vụ khảo sát.
Rà soát từ 465 xã do địa phương đề xuất
Danh sách các xã ưu tiên được xây dựng trên cơ sở số liệu do địa phương cung cấp theo Công văn số 4817/BNNMT-TL, qua các bước tổng hợp, sàng lọc và phân loại mức độ thiếu nước.
Cụ thể, trong số 31 tỉnh, thành phố gửi số liệu bước đầu, có 24 tỉnh, thành phố đề xuất các khu vực ưu tiên khảo sát, với tổng số 465 xã. Kết quả sàng lọc tại 364 xã thuộc vùng dân tộc miền núi hoặc dân tộc thiểu số cho thấy, có 109 xã thiếu nước mức độ nặng, 154 xã mức độ vừa, 69 xã mức độ nhẹ và 32 xã chưa xác định mức độ.
Trên cơ sở định hướng tại Nội dung 10, Hợp phần thứ nhất của Quyết định số 417/QĐ-BNNMT, nhiệm vụ lựa chọn các xã thuộc vùng miền núi hoặc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đáp ứng ít nhất một trong hai tiêu chí.
Định hướng này đặt trọng tâm vào các địa bàn đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, vùng khan hiếm, khó khăn về nguồn nước, khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
Kết quả điều tra là cơ sở để lựa chọn nguồn nước, mô hình cấp nước và chuẩn bị đầu tư các công trình cấp nước sạch. Ảnh: Tùng Đinh.
Việc xác định thứ tự ưu tiên theo mức độ thiếu nước nhằm tập trung nguồn lực khảo sát vào những địa bàn có nhu cầu cấp thiết hơn, đồng thời tạo cơ sở dữ liệu ban đầu phục vụ công tác lập kế hoạch đầu tư phát triển công trình cấp nước sạch nông thôn.
Theo phương án nhiệm vụ, 109 xã thuộc 16 tỉnh có tổng diện tích tự nhiên theo địa giới hành chính là 17.110 km². Đây là phạm vi thu thập, rà soát và kế thừa tài liệu phục vụ đánh giá tổng thể tại các xã.
Trong khi đó, phạm vi điều tra, khảo sát thực địa được khoanh định cụ thể hơn, gắn với phân bố các thôn, bản, cụm dân cư cần cấp nước và những tiểu lưu vực, hành lang thu nước có liên quan đến việc lựa chọn nguồn, dự kiến vị trí công trình thăm dò phục vụ cấp nước. Tổng diện tích khảo sát thực địa dự kiến là 5.596 km².
Việc phân định rõ phạm vi thu thập tài liệu và phạm vi khảo sát thực địa giúp nhiệm vụ tập trung vào những khu vực có ý nghĩa trực tiếp đối với phương án cấp nước, thay vì triển khai khảo sát đồng đều trên toàn bộ diện tích hành chính của các xã.
Đánh giá đồng thời nước mặt, nước dưới đất và nước mưa
Nhiệm vụ khảo sát sẽ đánh giá đồng thời ba nguồn nước gồm nước mặt, nước dưới đất và nước mưa, kết hợp rà soát hiện trạng các công trình khai thác, sử dụng nước tại địa phương.
Đối với nước mặt, nội dung khảo sát tập trung xác định khả năng khai thác, chất lượng và mức độ ổn định của nguồn nước theo mùa. Đây là căn cứ để đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, đặc biệt tại những khu vực có lưu lượng nước suy giảm vào mùa khô.
Đối với nước dưới đất, nhiệm vụ đánh giá tiềm năng, chất lượng và điều kiện khai thác, từ đó xác định những khu vực có triển vọng để định hướng tìm kiếm, thăm dò nguồn nước phục vụ cấp nước sinh hoạt. Nội dung này cần tính đến đặc điểm địa hình, địa chất và sự phân bố nguồn nước tại từng địa bàn.
Bên cạnh đó, khả năng thu trữ, sử dụng nước mưa cũng được xem xét tại những xã khó khai thác ổn định nước mặt và nước dưới đất. Các công trình công cộng như trường học, trạm y tế là những địa điểm được đánh giá khả năng thu trữ nước mưa, phục vụ đề xuất nguồn cấp bổ sung hoặc dự phòng.
Phương tiện thu gom, lưu trữ nước mưa ở các địa phương thiếu nước tại Cao Bằng. Ảnh: Tùng Đinh.
Kết quả điều tra sẽ là cơ sở để lựa chọn nguồn nước và mô hình cấp nước phù hợp với điều kiện từng xã, đồng thời xác định những khu vực cần tiếp tục tìm kiếm, thăm dò. Việc đánh giá cả khả năng khai thác, chất lượng và tính ổn định của nguồn nước giúp hạn chế nguy cơ đầu tư công trình nhưng không có đủ nước để vận hành lâu dài.