Quản lý tài nguyên nước ở Lạng Sơn đang đi vào cụ thể hơn khi hiện trạng, khả năng khai thác của các nguồn nước từng bước được xác định rõ.
Nắm chắc nguồn nước để quản lý
Với địa hình miền núi, dân cư phân bố không đồng đều, nguồn nước tại Lạng Sơn cũng có sự khác biệt giữa các khu vực. Có nơi thuận lợi về nước mặt, nhưng tại một số vùng núi cao, nguồn nước sinh hoạt còn khó khăn, nhất là vào mùa khô. Vì vậy, việc điều tra, nắm được trữ lượng, khả năng khai thác và nhu cầu sử dụng là cơ sở quan trọng trong quản lý tài nguyên nước.
Bà Hoàng Thị Thu Thủy, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi cho biết, sau khi Luật Tài nguyên nước năm 2023 có hiệu lực, tỉnh đã triển khai các nội dung theo quy định mới, từ phổ biến pháp luật, rà soát văn bản đến hoàn thiện các công cụ phục vụ quản lý tài nguyên nước.

Cán bộ chuyên môn thực hiện quan trắc, thu thập thông tin phục vụ quản lý tài nguyên nước trên địa bàn Lạng Sơn. Ảnh: Hoàng Nghĩa.
UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật Tài nguyên nước năm 2023. Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết với 160 đại biểu tham gia. Trong năm 2026, một số nội dung về quản lý tài nguyên nước tiếp tục được lồng ghép phổ biến tại 2 lớp với 130 đại biểu.
Cùng với đó, các quy định thuộc thẩm quyền địa phương được rà soát để phù hợp với quy định hiện hành. Sở đã tham mưu UBND tỉnh ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật lập hành lang bảo vệ nguồn nước; rà soát, bãi bỏ một số quy định không còn phù hợp.
Phương án khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được tích hợp vào Quy hoạch tỉnh Lạng Sơn. Đây là căn cứ để địa phương xem xét nhu cầu sử dụng gắn với khả năng đáp ứng của nguồn nước ở từng khu vực.
32 giếng khoan tại vùng khan hiếm nước
Tìm nguồn nước cho các vùng núi cao, khan hiếm nước là một trong những kết quả đáng chú ý trong công tác điều tra tài nguyên nước tại Lạng Sơn.
Trong khuôn khổ dự án tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước khu vực miền núi, trung du Bắc Bộ, cơ quan chuyên môn đã thực hiện điều tra, tìm kiếm tại 13 vùng khan hiếm nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh.
Qua điều tra, 32 giếng khoan thăm dò được thực hiện. Tổng trữ lượng tiềm năng có thể khai thác đạt 7.040 m3/ngày, đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng nước sinh hoạt tại các vùng được điều tra, tìm kiếm. Các giếng khoan đã được kết cấu bảo đảm có thể xây dựng công trình cấp nước sạch tập trung phục vụ người dân.
Kết quả này có ý nghĩa đối với những khu vực thường gặp khó khăn về nguồn nước. Khi vị trí và khả năng khai thác nước dưới đất được xác định, địa phương có thêm cơ sở để tính toán đầu tư các công trình cấp nước phù hợp, thay vì chỉ phụ thuộc vào những nguồn nước nhỏ lẻ.
Một phần việc quan trọng khác là kiểm kê tài nguyên nước. Lạng Sơn đã hoàn thành nhiệm vụ kiểm kê và kết quả được UBND tỉnh phê duyệt vào tháng 9/2025. Tỉnh cũng đã hoàn thành xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên nước.
Việc có dữ liệu về nguồn nước giúp cơ quan chuyên môn thuận lợi hơn trong theo dõi hiện trạng, xem xét nhu cầu khai thác và phục vụ công tác quản lý. Danh mục nguồn nước mặt nội tỉnh cũng đã được UBND tỉnh phê duyệt, tạo thêm cơ sở để quản lý từng nguồn nước trên địa bàn.

Nguồn nước mặt trên địa bàn Lạng Sơn được quản lý, bảo vệ gắn với nhu cầu khai thác, sử dụng. Ảnh: Đinh Mười.
Kiểm soát khai thác bằng giấy phép
Cùng với điều tra và xây dựng dữ liệu, hoạt động khai thác, sử dụng nước được quản lý thông qua cấp phép và đăng ký theo quy định.
Hiện trên địa bàn Lạng Sơn có 131 giấy phép tài nguyên nước còn hiệu lực. Trong đó, 63 giấy phép khai thác nước mặt, 53 giấy phép khai thác nước dưới đất và 15 giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất.
Tỉnh đã cấp 4 giấy xác nhận đăng ký khai thác nước mặt, sử dụng mặt nước cho 43 công trình thủy lợi và Dự án Khu du lịch sinh thái thác Đăng Mò, xã Bình Gia.
Các con số trên phản ánh khá rõ phạm vi khai thác tài nguyên nước đang được quản lý. Thông qua giấy phép và đăng ký, cơ quan chức năng có căn cứ nắm quy mô, mục đích khai thác của các công trình, từ đó theo dõi việc sử dụng nguồn nước theo quy định.
Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính trong khai thác tài nguyên nước cũng được triển khai. Đến nay, tỉnh đã phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với 65 công trình, với tổng số tiền hơn 8,28 tỷ đồng.
Trong điều kiện nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, kiểm soát hoạt động khai thác có ý nghĩa trực tiếp đối với việc duy trì nguồn nước. Việc khai thác phải phù hợp với khả năng đáp ứng của từng nguồn, tránh ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng nước ở khu vực xung quanh.
Bảo vệ từ khu vực lấy nước
Bên cạnh quản lý khai thác, Lạng Sơn đã triển khai các biện pháp bảo vệ nguồn nước thông qua lập hành lang và xác định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt.
UBND tỉnh đã ban hành danh mục các nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ trên địa bàn. Đến nay, 3 phương án cắm mốc giới hành lang bảo vệ nguồn nước hồ chứa thủy điện đã được phê duyệt.
Đối với các nguồn nước phục vụ sinh hoạt, tỉnh đã phê duyệt phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước của các công trình được cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước. Việc phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh đồng thời với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép đã được thực hiện đối với 7 công trình.
Danh mục hồ, ao không được san lấp cũng đang được rà soát. Trên cơ sở Luật Tài nguyên nước năm 2023 cùng các nghị định hướng dẫn, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã trình UBND tỉnh xem xét phê duyệt điều chỉnh danh mục hồ, ao không được san lấp trên địa bàn.
Theo bà Hoàng Thị Thu Thủy, cùng với việc nắm chắc hiện trạng nguồn nước, quản lý hoạt động khai thác thì bảo vệ nguồn nước là yêu cầu xuyên suốt. Những kết quả điều tra, kiểm kê và cơ sở dữ liệu đã có sẽ tiếp tục được sử dụng để phục vụ công tác quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn.

Các hồ chứa vừa phục vụ khai thác nguồn nước, vừa đặt ra yêu cầu quản lý, bảo vệ hành lang nguồn nước. Ảnh: Hoàng Nghĩa.
Với đặc thù miền núi, nguồn nước phân bố không đồng đều, yêu cầu đặt ra với Lạng Sơn là quản lý sát với điều kiện của từng khu vực. Nguồn nước cần được khai thác phù hợp với nhu cầu dân sinh, sản xuất, đồng thời được bảo vệ để duy trì khả năng sử dụng lâu dài.