Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Đồng Nai được biên soạn hàng tháng để cung cấp các thông tin về tổng lượng nước, chất lượng nước tại 02 trạm nước mặt Cát Tiên, Đại Ninh; mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của Pháp luật.
Lưu vực sông Đồng Nai là một trong các lưu vực sông lớn của Việt Nam có tổng diện tích lưu vực khoảng 36.350 km2, trải rộng trên địa bàn nhiều tỉnh/thành phố như TP. Hồ Chí Minh, TP. Đồng Nai, tỉnh Lâm Đồng và một phần phía Tây Bắc của tỉnh Tây Ninh.
Nội dung chính của bản tin bao gồm:
- Thông báo số lượng và chất lượng nước tháng 8 tại trạm tài nguyên nước mặt Đại Ninh trên sông Đa Nhim và tại trạm Cát Tiên trên sông Đồng Nai. - Thông báo mực nước dưới đất tháng 8 năm 2026, chất lượng nước mùa khô năm 2026 và dự báo mực nước dưới đất tháng 9 năm 2026 cho các tầng chứa nước trên lưu vực, đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng, chất lượng nước trong phạm vi 84 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.
1. Hiện trạng nguồn nước mặt
Mực nước trung bình tháng 8 năm 2026 trên sông Đa Nhim tại trạm Đại Ninh là 88020cm, tăng 07cm so với tháng trước, giảm 08cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 08cm so với giá trị tháng 8 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 88078cm (ngày 11/8/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 87995cm (ngày 08/8/2026).
Mực nước trung bình tháng 8 năm 2026 trên sông Đồng Nai tại trạm Cát Tiên là 12850cm, tăng 68cm so với tháng trước, giảm 25cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 105cm so với giá trị tháng 8 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 12974cm (ngày 01/8/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 12753cm (ngày 15/8/2026).
2 Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với tháng 7, có 1/3 công trình mực nước dâng, 1/3 công trình mực nước hạ và 1/3 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Trong tháng 8: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,01m tại xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (LK117T) và sâu nhất là -6,34m tại xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (LK118T).
Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 8 tầng q
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với tháng 7 có xu thế dâng. Trong đó có 15/18 công trình mực nước dâng, 2/18 công trình mực nước hạ và 1/18 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 4,42m tại Phường 2 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (C10a) và giá trị hạ thấp nhất là 0,2m tại xã Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (LK113T). Trong tháng 8: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,29m tại Phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng (LK92T) và sâu nhất là -119,95m tại Phường 2 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (C10o).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Jura dưới - giữa (J1-2) : Mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với tháng 7 có xu thế hạ. Trong đó có 3/4 công trình mực nước hạ, 1/4 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,28m tại xã Ninh Gia, tỉnh Lâm Đồng (LK111aT) và giá trị dâng cao nhất là 0,14m tại xã Ninh Gia, tỉnh Lâm Đồng (LK106T). Trong tháng 8: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -4,1m tại xã Ninh Gia, tỉnh Lâm Đồng (LK111aT) và sâu nhất là -11,63m tại xã Ninh Gia, tỉnh Lâm Đồng (LK106T).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3): Mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với tháng 7 có xu thế dâng. Trong đó có 6/7 công trình mực nước dâng, 1/7 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 1,36m tại xã Ninh Điền, tỉnh Tây Ninh (Q222020). Trong tháng 8: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,07m tại Phường Tân Ninh, tỉnh Tây Ninh (Q221020) và sâu nhất là -8,55m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808020).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3): Mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với tháng 7 có xu thế dâng. Trong đó có 9/11 công trình mực nước dâng, 1/11 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/11 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 1,73m tại xã Ninh Điền, tỉnh Tây Ninh (Q222230) và giá trị hạ thấp nhất là 0,18m tại xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai (Q039030M1). Trong tháng 8: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,24m tại xã Đại Phước, TP. Đồng Nai (Q014340) và sâu nhất là -17,84m tại Phường Trung Mỹ Tây, TP. Hồ Chí Minh (Q011340).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1): Mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với tháng 7, có 4/8 công trình mực nước dâng, 3/8 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/8 công trình mực nước hạ. Trong tháng 8: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,89m tại xã Long Thành, TP. Đồng Nai (Q040020) và sâu nhất là -15,01m tại xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai (Q039340M1).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n2 2): Mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với tháng 7 có xu thế dâng. Trong đó có 10/13 công trình mực nước dâng, 2/13 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/13 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 0,67m tại xã Phước Hòa, TP. Hồ Chí Minh (Q22504Z) và giá trị hạ thấp nhất là 0,1m tại xã Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh (Q822040M1). Trong tháng 8: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,91m tại Phường Tân Ninh, tỉnh Tây Ninh (Q22104Z) và sâu nhất là -19,64m tại Phường Trung Mỹ Tây, TP. Hồ Chí Minh (Q011040).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n2 1): Mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với tháng 7, có 2/5 công trình mực nước dâng, 2/5 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/5 công trình mực nước hạ. Trong tháng 8: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -6,26m tại xã Tân Lập, tỉnh Tây Ninh (Q220050M1) và sâu nhất là -11,92m tại xã Tân An Hội, TP. Hồ Chí Minh (Q80404ZM1).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Miocene trên (n1 3): Mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với tháng 7 có xu thế dâng. Trong đó có 3/3 công trình mực nước dâng. Giá trị dâng cao nhất là 0,38m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808050M1). Trong tháng 8: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -8,76m tại Phường Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (Q023050M1) và sâu nhất là -19,62m tại xã Bình Lợi, TP. Hồ Chí Minh (Q808050M1).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá bazan (B/n-q): Mực nước dưới đất trung bình tháng 8 so với tháng 7 có xu thế dâng. Trong đó có 4/5 công trình mực nước dâng, 1/5 công trình mực nước hạ. Giá trị dâng cao nhất là 1,92m tại Phường Xuân Lập, TP. Đồng Nai (Q71207ZM1) và giá trị hạ thấp nhất là 0,43m tại xã Dầu Giây, TP. Đồng Nai (QNoll). Trong tháng 8: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,79m tại xã Bàu Hàm, TP. Đồng Nai (Q710070) và sâu nhất là -19,96m tại xã Dầu Giây, TP. Đồng Nai (QNoll).
3. Đề xuất, kiến nghị
Đối với nước mặt
Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm Đại Ninh trong tháng 8 năm 2026 khoảng 19,4 triệu m3, tăng khoảng 0,1 triệu m3 so với tháng trước, tại trạm Cát Tiên khoảng 474 triệu m3, tăng khoảng 139,8 triệu m3 so với tháng trước. Theo QCVN 08:2023/BTNMT, các thông số chất lượng nước mặt tại trạm Đại Ninh trên sông Đa Nhim có chất lượng nước xấu. Các thông số TSS, COD, Tổng Coliform và Tổng Photpho thuộc cột B; BOD5 có giá trị chất lượng nước thuộc cột C; Tổng Nitơ thuộc cột D. Tại trạm Cát Tiên có các thông số COD, Tổng Nitơ có giá trị chất lượng nước thuộc cột B, Tổng Coliform thuộc cột C. Cần có biện pháp xử lý kịp thời để cải thiện chất lượng nguồn nước, đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước.
Đối với nước dưới đất
Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực xã Phước Hòa, TP. Hồ Chí Minh, xã Bù Đăng, TP. Đồng Nai, Phường Đông Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng, Phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng, xã Nhơn Trạch, TP. Đồng Nai, Phường 2 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xã Ninh Gia, tỉnh Lâm Đồng, xã Đinh Văn Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Nhìn chung, chất lượng nước dưới đất tại các tầng chứa nước trên lưu vực sông Đồng Nai trong mùa khô năm 2026 đa số nằm trong giới hạn cho phép, tuy nhiên có một số công trình có hàm lượng TDS, Mn, Pb và NH4+ vượt quá GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT, tập trung ở các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh), các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trên (qp3), Pleistocene giữa-trên (qp2 3), Pleistocene dưới (qp1), tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n22), tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n21) và các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Miocene trên (n13).