Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Lưu Vực Sông Ba Tháng 06 Năm 2026

Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Ba được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về số lượng, chất lượng nước mặt, mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.

 Lưu vực sông Ba là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm 2 tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk với tổng diện tích lưu vực là 13.417km2. Nội dung chính của bản tin năm bao gồm:

- Thông báo số lượng và chất lượng nước mặt tháng 05 năm 2026 theo kết quả quan trắc được tại hai trạm tài nguyên nước An Thạnh trên sông Kỳ Lộ và Ya Yun Hạ trên sông Ba A Yun.

- Thông báo mực nước dưới đất trung bình tháng 05, chất lượng nước mùa khô năm 2026  và dự báo mực nước dưới đất trung bình tháng 6 tại các tầng chứa nước, đưa ra cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 33 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.

1. Hiện trạng nguồn nước mặt

Mực nước trung bình tháng 5 năm 2026 trên sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh là 334cm, tăng 10cm so với tháng trước, giảm 5cm so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 08cm so với tháng 5 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 361cm (ngày 20/5/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 311cm (ngày 01/5/2026).

Mực nước trung bình tháng 5 năm 2026 trên sông Ba A Yun tại trạm Ya Yun Hạ là 20770cm, tăng 06cm so với tháng trước, giảm 29cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 26cm so với tháng 5 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 20854cm (ngày 19/5/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20734cm (ngày 17/5/2026).

2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 8/11 công trình mực nước hạ, 2/11 công trình mực nước dâng và 1/11 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,37m tại xã Phú Thiện, tỉnh Gia Lai (C7a) và giá trị dâng cao nhất là 0,08m tại phường An Bình, tỉnh Gia Lai (LK15T).

Sơ đồ dự báo diễn biến mực nước tầng q

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 4/6 công trình mực nước hạ, 2/6 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,39m tại phường Bình Kiến, tỉnh Đắk Lắk (QT3-PY) và giá trị dâng cao nhất là 0,2m tại xã Xuân Lộc, tỉnh Đắk Lắk (QT1-PY).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 3/4 công trình mực nước hạ, 1/4 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,35m tại xã Tây Hoà, tỉnh Đắk Lắk (QT6a-PY).

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK65T thuộc xã Ia Tôr, tỉnh Gia Lai mực nước trung bình tháng 5 hạ 1,43m so với tháng 4.

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 3/3 công trình mực nước hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 2,21m tại xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk (LK30T).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 5 so với tháng 4 có xu thế hạ, có 5/5 công trình mực nước hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 0,33m tại xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai (LK39T).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei-Sialua (ar-s): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK54T thuộc xã Ea Knốp, tỉnh Đắk Lắk mực nước trung bình tháng 5 dâng hạ không đáng kể so với tháng 4.

3. Cảnh báo nguồn nước dưới đất

Theo khoản 18 điều 1 của Nghị định 23/2026/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất (từ 50% so với mực nước hạ thấp cho phép trở lên), trong lưu vực sông Ba thời điểm hiện tại chưa có công trình nào có độ sâu mực nước vượt quá 50% ngưỡng giới hạn cho phép cần phải cảnh báo.

4. Đề xuất, kiến nghị

Đối với tài nguyên nước mặt: Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm An Thạnh trong tháng 4 năm 2026 khoảng 178,7 triệu m3, giảm khoảng 48,9 triệu m3 so với tháng trước, tại trạm Ya Yun Hạ khoảng 17,8 triệu m3, giảm khoảng 8,8 triệu m3 so với tháng trước.

Đa số các thông số chất lượng nước mặt tại trạm trạm An Thạnh trên sông Kỳ Lộ và tại trạm Ya Yun Hạ trên sông Ba A Yun thuộc cột A, theo QCVN 08:2023/BTNMT. Cần duy trì để chất lượng nguồn nước luôn được tốt, đáp ứng được các nhu cầu sử dụng nước.

Đối với tài nguyên nước dưới đất: Hiện tại, trên phạm vi lưu vực sông Ba chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, tuy nhiên để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trên lưu vực và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.

Nước trong lưu vực sông thuộc loại nước nhạt, có dấu hiệu lợ phân bố ở tầng qp tại công trình QT4b-PY (phường Phú Yên, tỉnh Đắk Lắk) và mặn ở tầng qh tại QT1-PY (xã Xuân Lộc, tỉnh Đắk Lắk).

Đa số các thông số chất lượng nước trên lưu vực sông nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, qh, qp, n. Các thông số vượt bao gồm Amoni, Fluoride, Mangan.

TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM
1781683769-qQ0EcQYkIJ.pdf