Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Tỉnh Gia Lai Tháng 06 Năm 2026

Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên tỉnh Gia Lai được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về số lượng, chất lượng nước mặt, mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.

Gia Lai là một tỉnh nằm trên 4 lưu vực sông Sê San, Srê Pốk, Ba và Kôn – Hà Thanh có diện tích tự nhiên là 21.576,53km2. Nội dung chính của bản tin tháng bao gồm: Thông báo số lượng, chất lượng nước mặt tháng 5 năm 2026 trên sông Ba A Yun tại trạm Ya Yun Hạ. Thông báo mực nước dưới đất tháng 5 và chất lượng nước mùa khô năm 2026; dự báo mực nước dưới đất tháng tiếp theo tại các tầng chứa nước, đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 65 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.

1. Hiện trạng nguồn nước mặt

Mực nước trung bình tháng 5 năm 2026 trên sông Ba A Yun tại trạm Ya Yun Hạ là 20770cm, tăng 06cm so với tháng trước, giảm 29cm so với tháng cùng kỳ năm trước và giảm 26cm so với tháng 5 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 20854cm (ngày 19/5/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 20734cm (ngày 17/5/2026).

Bảng 1. Kết quả quan trắc tài nguyên nước tháng 05 năm 2026

 

Trạm

 

Yếu tố

 

TBNN

TB

tháng trước

 

Tháng 04

Tăng/giảm (-) %

So với TBNN

So với tháng

trước

 

Yayun Hạ

Mực nước (cm)

20796

20764

20770

-0,125

0,03

Lưu lượng nước (m3/s)

21,8

6,9

8,7

-60,1

26,5

Tổng lượng nước (triệu m3)

58,3

17,8

19,5

-66,6

9,6

2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 0,37m tại xã Phú Thiện (C7a) và giá trị dâng cao nhất là 0,08m tại phường An Bình (LK15T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,03m tại xã Phú Thiện (CB1-IV) và sâu nhất là -13,05m tại xã Ia Rsai (LK36aT).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 0,34m tại xã Tuy Phước Đông (QT10-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,57m tại phường Quy Nhơn Đông (QT8-BĐ) và sâu nhất là -2,79m tại xã Tuy Phước Đông (QT10-BĐ).

Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tầng qh

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế dâng hạ không đáng kể so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 0,4m tại xã Đề Gi (QT1-BĐ). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,36m tại xã Tuy Phước Đông (QT4-BĐ) và sâu nhất là -13,4m tại phường Quy Nhơn Đông (QT3-BĐ).

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 2,3m tại phường An Phú (CB1-I) và giá trị dâng cao nhất là 0,09m tại phường Hội Phú (LK64T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,16m tại xã Biển Hồ (LK159T) và sâu nhất là -24,43m tại phường Thống Nhất (C3b).

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 2,58m tại xã Ia Hrú (LK170T) và giá trị dâng cao nhất là 0,36m tại xã Chư Păh (C2o). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,69m tại xã Chư Prông (LK144T) và sâu nhất là -27,62m tại xã Đức Cơ (LK165T).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 1,02m tại xã Ia Ly (LK62T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,79m tại xã Ia Ly (LK59T) và sâu nhất là -19,52m tại xã Ia Ly (LK62T).

Tầng chứa nước khe nứt trong đá biến chất Arkei (ar): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế dâng hạ không đáng kể so với tháng 4. Mực nước trung bình tháng nông nhất là -4,84m tại phường An Nhơn (QT6b-BĐ) và sâu nhất là -4,98m tại xã Bình An (QT7b-BĐ).

3. Cảnh báo nguồn nước dưới đất

Theo khoản 18 điều 1 của Nghị định 23/2026/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất (từ 50% so với mực nước hạ thấp cho phép trở lên), trong tỉnh thời điểm hiện tại chưa có công trình nào có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo.

4. Đề xuất, kiến nghị

Đối với tài nguyên nước mặt: Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm Ya Yun Hạ trong tháng 5 năm 2026 khoảng 19,5 triệu m3, tăng khoảng 1,7 triệu m3 so với tháng trước. Theo QCVN 08:2023/BTNMT, các thông số chất lượng nước mặt tại trạm Ya Yun Hạ trên sông Ba A Yun thuộc cột A, riêng thông số Tổng Phot-pho có giá trị chất lượng nước thuộc cột B. Cần có biện pháp để duy trì và cải thiện chất lượng nguồn nước hiện tại được tốt hơn, đáp ứng được nhu cầu khai thác, sử dụng nước.

Đối với tài nguyên nước đưới đất: Hiện tại, trong phạm vi tỉnh Gia Lai chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trên địa bàn tỉnh và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.

Nước trong tỉnh thuộc loại nước nhạt, có dấu hiệu lợ phân bố ở tầng qp tại công trình QT4-BĐ (xã Tuy Phước Đông) và mặn ở tầng qh tại công trình QT10-BĐ (xã Tuy Phước Đông).

Đa số các thông số chất lượng nước trong tỉnh nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước q, qh, qp, n và ar. Các thông số vượt bao gồm Amoni, Fluoride, Mangan

TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM
1781600359-U5LiMMkUZ9.pdf