Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Tỉnh Đắk Lắk Tháng 06 Năm 2026

Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên tỉnh Đắk Lắk được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về số lượng, chất lượng nước mặt, mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.

Tỉnh Đắk Lắk là một tỉnh thuộc lưu vực sông Srê Pốk có diện tích tự nhiên là 18.096,4km2. Nội dung chính của bản tin tháng bao gồm: Thông báo số lượng, chất lượng nước mặt tháng 5 năm 2026 trên sông Ea Krông Nô tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên, trên sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh. Thông báo mực nước dưới đất tháng 5 và chất lượng nước mùa khô năm 2026; dự báo mực nước dưới đất tháng tiếp theo tại các tầng chứa nước, đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng trong phạm vi 46 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.

1. Hiện trạng nguồn nước mặt

Mực nước trung bình tháng 5 năm 2026 trên sông Ea Krông Nô tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên là 48700cm, tăng 35cm so với tháng trước, giảm 01cm so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 20cm so với tháng 5 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 48750cm (ngày 10/5/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 48665cm (ngày 04/5/2026).

Bảng 1. Kết quả quan trắc tài nguyên nước tháng 05 năm 2026

 

Trạm

 

Yếu tố

 

TBNN

TB

tháng trước

 

Tháng 04

Tăng/giảm (-) %

So với TBNN

So với tháng

trước

 

Đức Xuyên

Mực nước (cm)

48680

48665

48700

0,04

0,07

Lưu lượng nước (m3/s)

22,4

18,6

26,2

16,8

40,5

Tổng lượng nước (triệu m3)

50,3

48,3

58,8

16,8

21,7

Mực nước trung bình tháng 5 năm 2026 trên sông Kỳ Lộ tại trạm An Thạnh là 334cm, tăng 10cm so với tháng trước, giảm 5cm so với tháng cùng kỳ năm trước và tăng 08cm so với tháng 5 trung bình nhiều năm. Giá trị mực nước lớn nhất là 361cm (ngày 20/5/2026), giá trị mực nước nhỏ nhất là 311cm (ngày 01/5/2026).

2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK51T thuộc xã Ea Kly mực nước trung bình tháng 5 dâng hạ không đáng kể so với tháng 4.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 0,39m tại phường Bình Kiến (QT3-PY) và giá trị dâng cao nhất là 0,2m tại xã Xuân Lộc (QT1-PY). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,65m tại xã Xuân Lộc (QT1-PY) và sâu nhất là -10,4m tại phường Hòa Hiệp (QT8a-PY).

Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước tầng qh

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 0,35m tại xã Tây Hoà (QT6a-PY). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,37m tại phường Phú Yên (QT4b-PY) và sâu nhất là -10,59m tại phường Hòa Hiệp (QT8b-PY).

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 3,47m tại xã Ea Khăl (LK29T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,6m tại xã Krông Ana (LK76T) và sâu nhất là -22,11m tại xã Pơng Drang (LK71T).

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 2,21m tại xã Ea Drăng (LK30T) và giá trị dâng cao nhất là 1,5m tại xã Ea Knuếc (C5o). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,74m tại phường Thành Nhất (LK48T) và sâu nhất là -26,23m tại phường Tân An (C15).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK52T thuộc xã Ea Kar mực nước trung bình tháng 5 dâng hạ không đáng kể so với tháng 4.

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Jura dưới - giữa (j1-2): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 0,46m tại xã Buôn Đôn (LK25T) và giá trị dâng cao nhất là 0,3m tại xã Ea Súp (LK28T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -5,11m tại xã Buôn Đôn (LK26T) và sâu nhất là -8,73m tại xã Buôn Đôn (LK25T).

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei- Sialua (ar-s): Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 5 có xu thế hạ so với tháng 4. Giá trị hạ thấp nhất là 0,09m tại xã Ea Knốp (LK53T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,77m tại xã Ea Knốp (LK53T) và sâu nhất là -3,54m tại xã Ea Knốp (LK54T).

Tầng chứa nước khe nứt trong đá magma xâm nhập (g): Theo kết quả quan trắc tại công trình LK68T thuộc xã Ea H'leo mực nước trung bình tháng 5 dâng hạ không đáng kể so với tháng 4.

3. Cảnh báo nguồn nước dưới đất

Theo khoản 18 điều 1 của Nghị định 23/2026/NĐ-CP về xác định ngưỡng khai thác nước dưới đất (từ 50% so với mực nước hạ thấp cho phép trở lên), trong tỉnh thời điểm hiện tại chưa có công trình nào có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo.

4. Đề xuất, kiến nghị

Đối với tài nguyên nước mặt: Tổng lượng tài nguyên nước mặt tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên trong tháng 5 năm 2026 khoảng 58,8 triệu m3, tăng khoảng 10,5 triệu m3 so với tháng trước, tại trạm An Thạnh khoảng 188,4 triệu m3, tăng khoảng 9,1 triệu m3 so với tháng trước.

Theo QCVN 08:2023/BTNMT, tại trạm tài nguyên nước mặt Đức Xuyên trên sông Ea Krông Nô có các thông số TSS và Tổng Nitơ có giá trị chất lượng nước nước thuộc cột B, COD và BOD5 thuộc cột C. Tại trạm An Thạnh trên sông Kỳ Lộ, đa số các thông số có giá trị chất lượng nước thuộc cột A, riêng hai thông số DO và BOD5 thuộc cột B. Cần duy trì và có biện pháp xử lý kịp thời để cải thiện chất lượng nguồn nước, đáp ứng được nhu cầu khai thác sử dụng nước.

Đối với tài nguyên nước dưới đất: Hiện tại, trong phạm vi tỉnh Đắk Lắk chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trên địa bàn tỉnh và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.

Nước trong tỉnh thuộc loại nước nhạt, có dấu hiệu lợ phân bố ở tầng qp tại công trình QT4b-PY (phường Phú Yên) và mặn ở tầng qh tại công trình QT1-PY (xã Xuân Lộc).

Đa số các thông số chất lượng nước trong tỉnh nằm trong GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở các tầng chứa nước qh, qp, β(qp), j1-2, ar-s, g. Các thông số vượt bao gồm Amoni, Mangan, Fluoride.

TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM
1781600300-0y9aE7PdzZ.pdf