Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Dưới Đất Lưu Vực Sông Mã Tháng 03 Năm 2026

Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước tháng trên lưu vực sông Mã được biên soạn hàng tháng để cung cấp các thông tin về tổng lượng nước nội sinh tại các tiểu vùng dự báo; mực nước, chất lượng nước dưới đất nhằm phục vụ các mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định pháp luật.

Lưu vực sông Mã là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm lãnh thổ của các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Phú Thọ, Thanh Hóa và Nghệ An, với diện tích lưu vực là 17.600 km². Mùa mưa trên lưu vực diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

1. Hiện trạng nguồn nước mặt

Nguồn nước mặt của lưu vực sông: tổng lượng mưa năm bình quân từ 1.100 – 1.860 mm; Tổng lượng dòng chảy trung bình hàng năm trên lưu vực sông là khoảng 22,81 tỷ m3, trong đó phần sản sinh tại Việt Nam khoảng 18,48 tỷ m3 và tại Lào 4,33 tỷ m3, trong đó lượng dòng chảy mùa lũ chiếm khoảng 85% và mùa cạn chiếm 15% tổng lượng dòng chảy năm.

2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 2 so với tháng 1 có xu thế hạ, có 7/11 công trình mực nước hạ, 4/11 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,92m tại xã Quảng Chính (QT12-TH).

Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 2 tầng qh

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 2 so với tháng 1 có xu thế hạ, có 11/13 công trình mực nước hạ, 1/13 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/13 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,25m tại xã Xuân Hòa (QT4a-TH) và giá trị dâng là 0,12m tại xã Yên Trường (QT1a-TH).

3.Dự báo nguồn nước mặt

Theo nhận định của Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia, tổng lượng mưa tháng 3 năm 2026 khu vực Bắc Bộ và tỉnh Thanh Hoá phổ biến xấp xỉ so với trung bình nhiều năm (TBNN) cùng thời kỳ.

Dựa theo nhận định trên kết hợp với số liệu mưa dự báo từ vệ tinh, dự báo trong tháng 03, tổng lượng nước mặt dự báo sinh ra từ mưa trên phạm vi diện tích lưu vực sông Mã vào khoảng 585,5-640,7 triệu m³. Tổng lượng nước mặt dự báo lớn nhất tại tiểu vùng Trung sông Mã và nhỏ nhất tại tiểu vùng Nam sông Chu.

4. Dự báo nguồn nước dưới đất

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh): Diễn biến mực nước dưới đất dự báo tháng 3 so với mực nước quan trắc tháng 2 có xu thế hạ, có 6/11 công trình mực nước hạ, 4/11 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/11 công trình mực nước dâng. Mực nước hạ từ 0,05 đến 0,2m ở xã Vạn Lộc và mực nước dâng từ 0,05 đến 0,2m ở xã Thiệu Trung.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp): Diễn biến mực nước dưới đất dự báo tháng 3 so với mực nước quan trắc tháng 2 có 6/13 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể, 5/13 công trình mực nước hạ và 2/13 công trình mực nước dâng. Mực nước hạ từ 0,2 đến 0,5m ở xã Xuân Hòa và mực nước dâng từ 0,5 đến 1m ở phường Sầm Sơn.

5. Đề xuất, kiến nghị

Đối với tài nguyên nước mặt: Tháng 3 có tổng lượng nước mặt dự báo đạt trung bình khoảng 585,5-640,7 triệu m3. Lượng nước mặt này đáp ứng được nhu cầu khai thác sử dụng trên lưu vực nên không xảy ra hiện tượng thiếu nước.

Việc phân bổ hài hòa nguồn nước cho các đối tượng sử dụng nước sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 21 Thông tư 04/2020/TT-BTNMT Quy định kỹ thuật quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh. Mặt khác, vẫn cần giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước thông qua các quy định tại Thông tư 17/2021/TT-BTNMT Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

Đối với tài nguyên nước dưới đất: Hiện tại, trên phạm vi lưu vực sông Mã chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trong lưu vực sông và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.

Đa số các thông số chất lượng nước trên lưu vực sông nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở tầng chứa nước Holocen (qh) và Pleistocen (qp). Các thông số vượt chủ yếu bao gồm độ mặn, Mangan, Arsenic, Chì và Amoni.

TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM
1775703690-YXWiZYBbIp.pdf