Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước dưới đất tháng trong Thành phố Hà Nội được biên soạn hàng tháng để cung cấp các thông tin về mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định pháp luật.
Thành phố Hà Nội là một thành phố thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình có diện tích tự nhiên là 3.359,8km2. Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nội dung chính của bản tin tháng bao gồm: Thông báo mực nước dưới đất trung bình tháng 2 năm 2026, chất lượng nước mùa mưa năm 2025 và dự báo mực nước dưới đất hai tháng tiếp theo tại các tầng chứa nước, đưa ra những cảnh báo mực nước trung bình tháng, chất lượng nước trong phạm vi 55 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia quản lý và vận hành.
1. Hiện trạng nguồn nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh):
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen trên (qh2): Trên toàn khu vực, mực nước trung bình tháng 2 so với tháng 1 có xu thế hạ. Giá trị hạ thấp nhất là 0,66m tại phường Hồng Hà (Q.67) và giá trị dâng cao nhất là 0,13m tại xã An Khánh (Q.59a). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,8m tại xã An Khánh (Q.59a) và sâu nhất là -11,04m tại phường Việt Hưng (Q.121M1).
Hình 1. Sơ đồ diễn biến mực nước lớp qh2
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen dưới (qh1): Trên toàn khu vực, mực nước trung bình tháng 2 so với tháng 1 có xu thế không rõ ràng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,68m tại phường Kim Liên (Q.64) và giá trị dâng cao nhất là 0,11m tại phường Kiến Hưng (Q.69). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,98m tại xã Gia Lâm (Q.120) và sâu nhất là -7,76m tại phường Kiến Hưng (Q.69).
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp):
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trên (qp2): Trên toàn khu vực, mực nước trung bình tháng 2 so với tháng 1 có xu thế dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,51m tại phường Hà Đông (Q.68a) và giá trị dâng cao nhất là 0,21m tại xã Thư Lâm (Q.35). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,37m tại xã Gia Lâm (Q.120a) và sâu nhất là -4,87m tại xã Thư Lâm (Q.35).
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen dưới (qp1): Trên toàn khu vực, mực nước trung bình tháng 2 so với tháng 1 có xu thế không rõ ràng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,75m tại phường Hà Đông (Q.68b) và giá trị dâng cao nhất là 0,48m tại phường Tây Tựu (Q.62a). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,09m tại xã Chuyên Mỹ (Q.177a) và sâu nhất là -28,76m tại phường Cầu Giấy (Q.63aM).
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen: Trên toàn khu vực, mực nước trung bình tháng 2 so với tháng 1 có xu thế không rõ ràng. Giá trị dâng cao nhất là 0,07m tại phường Kim Liên (Q.215) và giá trị hạ thấp nhất là 0,45m tại phường Hồng Hà (Q.214). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -3,45m tại Xã Phú Xuyên (Q.175b) và sâu nhất là -14,07m tại phường Hồng Hà (Q.214).
Tầng chứa nước karst trong trầm tích Trias giữa (t2): Theo kết quả quan trắc tại công trình Q.177b thuộc xã Chuyên Mỹ, mực nước trung bình tháng 2 hạ 0,1m so với tháng 1.
2. Cảnh báo nguồn nước dưới đất
Theo Khoản 2, Điều 24 của Nghị định 131/2025/NĐ-CP về giới hạn mực nước khai thác, trong Thành phố Hà Nội thời điểm hiện tại có 2 công trình có độ sâu mực nước vượt quá 50% ngưỡng giới hạn cho phép (GHCP) cần phải cảnh báo (xem bảng 1). Các đơn vị khai thác nước dưới đất cần chú ý chế độ khai thác quanh khu vực này.
Bảng 1. Cảnh báo độ sâu mực nước trung bình
|
STT |
SHLK |
TCN |
Vị trí |
Độ sâu mực nước (m) |
Ngưỡng GHCP (m) |
% Ngưỡng GHCP |
|
1 |
Q.62a |
qp1 |
phường Tây Tựu (Q.62a) |
-20,29 |
-35 |
57,97 |
|
2 |
Q.63aM |
qp1 |
phường Cầu Giấy (Q.63aM) |
-28,76 |
-35 |
82,17 |
3. Đề xuất, kiến nghị
Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước vượt ngưỡng cho phép đặc biệt là tại các khu vực phường Tây Tựu, phường Cầu Giấy.
Đa số các thông số chất lượng nước trong Thành phố nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH tập trung ở các tầng chứa nước Holocen (qh), Pleistocen (qp), Neogen (n). Các thông số vượt chủ yếu bao gồm độ mặn, Mangan, Arsenic, Chì và Amoni.